<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-2533462898413902860</id><updated>2012-02-16T08:40:38.749-08:00</updated><title type='text'>Biệt Hải</title><subtitle type='html'></subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://biethai.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>12</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2533462898413902860.post-6653063246031904393</id><published>2009-08-12T23:24:00.001-07:00</published><updated>2010-09-29T12:37:40.551-07:00</updated><title type='text'>Sở Phòng Vệ Duyên Hải / Nguyen Thanh Hoai</title><content type='html'>&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SoAzR5j9wXI/AAAAAAAAFqA/EP4Te4vYDQ8/s1600-h/Bia-SPVDH-Color2.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 302px; height: 400px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SoAzR5j9wXI/AAAAAAAAFqA/EP4Te4vYDQ8/s400/Bia-SPVDH-Color2.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5368347138428092786" border="0" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Ngoài các bộ phận xâm nhập không vận, Sở Bắc (tức là Phòng 45B dưới quyền điều hành của Ðại Úy NGÔ THẾ LINH, thuộc Sở Liên Lạc Phủ Tổng Thống) có hai chi cục về "bộ vận" (xâm nhập bằng đường bộ) và "hải vận" (xâm nhập bằng đường thủy).  Hai chi cục này đóng tại Huế và Ðà Nẵng.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;    a. Chi cục Atlantic đóng tại Huế do Trung Úy TRẦN BÁ TUÂN (sau này là Chỉ Huy Phó Sở Công Tác) làm Chi Cục Trưởng, đặc trách việc tuyển mộ, huấn luyện và xâm nhập bằng đường bộ.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;    b. Chi cục Pacific đóng tại Ðà Nẵng do Ðại Úy HÃ NGỌC OÁNH rồi đến Trung Úy NÔNG AN PANG làm Chi Cục Trưởng, đặc trách việc tuyển mộ, huấn luyện và xâm nhập bằng đường thủy.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Sau cuộc đảo chánh của các tướng lãnh ngày 1.11.1963 và theo sự biến chuyễn của tình hình khi Chính Phủ Hoa Kỳ tăng quân số ở VNCH, nhu cầu bành trướng của Sở Bắc (sau khi Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt di chuyễn ra Nha Trang) Sở được cải biến thành Sở Kỹ Thuật rồi sau này trở thành Nha Kỹ Thuật trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Song song với việc thành lập Nha Kỹ Thuật và Sở Liên Lạc, Sở Phòng Vệ Duyên Hải (Coastal Security Service - CSS) cũng được chính thức thành vào ngày 1/04/1964.  Số nhân viên của hai Chi Cục Atlantic và Pacific được sát nhập và trở thành Bộ Chỉ Huy Sở Phòng Vệ Duyên Hải.  Cũng xin nói thêm rằng tên "Sở Phòng Vệ Duyên Hải" cũng chỉ là tên "vỏ bọc" mà thôi.  Sở này đặc trách mọi công tác hải vận của Nha Kỹ Thuật vùng biển Bắc vĩ tuyến 17.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Thiếu Tá NGÔ THẾ LINH được bổ nhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Sở Phòng Vệ Duyên Hải.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Ban đầu, Bộ Chỉ Huy Sở được đặt tại số 52 đường Bạch Ðằng, thành phố Ðà Nẵng (còn được gọi là White Elephant building) cùng chung doanh trại với cơ quan CSD (Combined Studies Division).  Cơ quan CSD từ trước là cố vấn cho hai Chi Cục Atlatic and Pacific của Sở Bắc.  Còn các cơ sở khác trực thuộc Sở thì được xây dựng dọc theo bờ biển Mỹ Khê và Tiên Sa.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Ngoài Bộ Chỉ Huy Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Sở có hai lực lượng chính là "Lực Lượng Hải Tuần" và "Lực Lượng Biệt Hải", cùng với một "Ðại Ðội Dân Sự Chiến Ðấu - DSCD" phụ trách việc canh gác hầu hết các cơ sở của Sở.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Cuối năm 1962, phía Hoa Kỳ đã gửi sang hai chiến đỉnh "Swift" và hai thuyền trưởng người ngoại quốc.  Thủy thủ đoàn là các nhân viên dân chính được tuyển mộ theo hợp đồng dưới danh nghĩa là Dân Sự Chiến Ðấu.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Quân số của Sở Phòng Vệ Duyên Hải tăng nhanh kể từ tháng 4/1964.  Các toác Biệt Hải của LLBH được tuyển mộ và huấn luyện dọc theo bờ biển Mỹ Khê.  Bộ Tư Lệnh Hải Quân cũng tăng phái một toán người Nhái được đặt tên là Athena dưới quyền chỉ huy của Hải Quân Ðại Úy Lâm Nhựt Ninh và 50 quân nhân Thủy Quân Lục Chiến được đặt dưới sự chỉ huy của Thiếu Úy Hưng và Thiếu Úy Ngộ lấy tên là ROMULUS.  Ngoài ra, lực lượng Biệt Hải cũng có những toán khác như toán NIMBUS, CUMULUS, CANCER, VEGA, MERCURY  đã được tuyễn mộ và huấn luyện từ các năm trước.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt; Sau khi lực lượng Biệt Hải (LLBH) bàn giao toàn thể doanh trại dọc bãi biển từ Mỹ Khê đến núi Non Nước cho Ðệ Tam Lực Lượng Thủy Bộ TQLC/ Hoa Kỳ (III MAF) thì toàn thể tập trung về đồn trú tại chân núi Sơn Trà.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Vì Sở Phòng Vệ Duyên Hải  là một đơn vị hoạt động ở Vùng Biển Bắc vĩ tuyến 17 và cũng đáp ứng với tình hình mới của hai chính phủ Việt - Mỹ, Cơ Quan CSD (Combined Studies Division) chuyển giao trách vụ cố vấn cho Hải Quân Hoa Kỳ, thuộc Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương (CINPAC).&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Một cơ quan mới được thành lập cạnh Sở Phòng Vệ Duyên Hải  lấy tên là US NAVAL ADVISORY DETACHMENT (CSS/NAD).  Ðây là Cơ Quan đối nhiệm (Counterpart Organization) của Sở Phòng Vệ Duyên Hải, và vị chỉ huy đầu tiên là Trung Tá OWENS.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Sau đó Bộ Chỉ Huy Sở Phòng Vệ Duyên Hải di chuyển về đóng chung với cơ quan US/NAD tại Sơn Trà.  Trại này sau lấy tên là Trại FAY (tên của Trung Tá CHT NAD tử nạn - xe bị nổ mìn năm 1967).  Riêng các phòng 2 và 3 thì đóng tại Lower Base ở Tiên Sa chung với các phòng liên hệ của Hoa Kỳ.  Song song với việc xây dựng các doanh trại cho Lực Lượng Biệt Hải và Lực Lượng Hải Tuần, Sở Phòng Vệ Duyên Hải còn thiết lập hai trại khác tại Cù Lao Chàm lấy tên là Phượng Hoàng (Phoenix) và DoDo.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt; Cũng trong thời gian này, phía Hoa Kỳ gửi sang một số chiến đỉnh có tốc độ nhanh gọi là PTF (Patrol Torpedo Fast) từ căn cứ Hải Quân Subic ở Phi Luật Tân.  Ðồng thời Bộ Tư Lệnh Hải Quân cũng tăng phái các thủy thủ đoàn phụ trách các chiến đỉnh nàỵ&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Ngoài ra, theo nhu cầu của tổ chức và với sự đề nghị của Bộ Chỉ Huy Nha Kỹ Thuật, Bộ Tư Lệnh Hải Quân đề cử Hải Quân Trung Tá Hồ Văn Kỳ Thoại đảm nhận chức vụ Chỉ Huy Trưởng Sở Phòng Vệ Duyên Hải thay thế Trung Tá Ngô Thế Linh khi ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Giám Ðốc Nha Kỹ Thuật.  Và kể từ ngày Trung Tá Hồ Văn Kỳ Thoại đảm nhận chức vụ CHT Sở PVDH, toàn bộ chỉ huy Sở di chuyển về Lower Base ở Tiên Sa.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Ðầu năm 1965 Sở PVDH đã có những hoạt động mạnh mẽ ở Bắc vĩ tuyến 17, gây nhiều nhiều thiệt hại cho cộng sản Bắc Việt:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;    a. Những cuộc hành quân lấy tên là LOKI:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;    Những cuộc hành quân này có mục đích bắt tù binh kể cả ngư dân và cán bộ Cộng Sản đưa về tại trại Phoenix để khai thác tin tức cung cấp các mục tiêu quân sự tại Bắc vĩ tuyến 17 cho Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ oanh tạc.  Theo khả năng thì các chiến đỉnh PTF của Sở PVDH chỉ hoạt động lên đến vĩ tuyến 20 (Thanh Hoá) nhưng có đôi lần các chiến đỉnh này hoạt động lên đến Bạch Long Vỹ.  Trong suốt thời gian hoạt động, Sở PVDH đã bắt hơn 500 ngư dân, công an và các bộ các hiệp tấn xả ngư nghiệp tại miền Bắc.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;    Sau khi đem về trại Phoenix để khai thác tin tức.  Cán bộ Sở PVDH tuyển chọn trong số này những người thù ghét chế độ Cộng sản, huấn luyện họ làm mật báo viên dài hạn (Sleeping Agents) chờ ngày giải phóng miền Bắc.  Sau khi hoàn tất việc huấn luyện cách thu thập tin tức, cách viết bí mật thư v.v... những người này được chuyển sang trại DoDo để nơi đây huấn luyện (Indoctrination) về chủ trương và đường lối của Mặt Trận Gươm Thiêng Ái Quốc do các cán bộ của Sở Tâm Lý Chiến (TLC) thuộc Nha Kỹ Thuật hướng dẫn dưới danh nghĩa Mặt Trận Giải Phóng Miền Bắc.  Ngoài ra các cán bộ Sở TLC cũng khai thác thêm các tin tức liên quan đến chính trị, xã hội và tôn giáo tại miền Bắc để hoạch định các công tác Tâm Lý Chiến cho đài Tiếng Nói Tự Do và đài Gươm Thiêng Ái Quốc thuộc Sở TLC/NKT.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;    Sau một thời gian, tất cả những người bị bắt đều được trả về miền Bắc và mỗi một người đều được tặng một gói quà gồm Radio, mùng, mền, lưới cá v.v... do Sở TLC/NKT thực hiện.  Mỗi một lần thả, họ đều được PTF chở ra vùng họ ở, cho xuống một chiếc ghe để họ chèo vào bờ.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;    Hầu hết những người được thả khi về đến địa phương đều bị Cộng sản Bắc Việt tịch thu hết các quà tặng, gây nhiều căm phẫn cho nhân dân và gia đình.  Ðặc biệt, có người sau một thời gian lại cố ý ra biển để được bị bắt lại.  Bởi lẽ, đời sống của người dân miền Bắc, đặc biệt là ngư dân, quá cực khổ và đói kém; khi vào trại của Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc được ăn uống no đủ, áo quần mới, đối xử tử tế nên họ - mặc dù trong thâm tâm vẫn nghĩ là miền Nam Việt Nam - rất có cảm tình với phong trào và cung cấp nhiều tin tức quân sự có gía trị cao.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;    b. Những cuộc hành quân lấy tên là CADO:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Do các toán Biệt Hải đổ bộ vào bờ để đột kích hoặc bắn phá các đồn Công An biên phòng tại các cửa biển hoặc các cơ sở trên đất liền.  Cũng năm 1964, một toán Biệt Hải đã đổ bộ và bắn phá nhà máy nước Bầu Tró (Ðồng Hới) gây nhiều thiệt hại cho nhà máy nàỵ  Nhiều lần các toán Biệt Hải đổ bộ và bắt cóc cán bộ Bắc Việt trong các làng ven biển tại Ðồng Hới và Quảng Bình.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;    c. Những cuộc hành quân lấy tên là MINT:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;    Trong suốt thời gian Hoa Kỳ phong tỏa hải phận Bắc Việt thả mìn ở cửa biển Hải Phòng, Sở SPDH liên tục hành quân vùng từ vĩ tuyến 17 đến Thanh Hóa.  Trong thời gian này, Sở PVDH đã chận đánh các đoàn ghe máy BắcViệt tiếp tế cho các hải đảo ngoài khơi duyên hải.  Ðặc biệt các chiến đỉnh của Sở PVDH đã đánh tan một đoàn tiếp tế của Bắc Việt cho đảo hòn Cọp, tịch thu rất nhiều vũ khí và quân dụng, trong đó có một khẩu đại bát 82 ly không giật, của Nga. Loại vũ khí đầu tiên tịch thu được trên chiến trường Việt Nam.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;d. Những cuộc hành quân Tâm Lý Chiến:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;    Sở Tâm Lý Chiến (Nha Kỹ Thuật) thực hiện các loại truyền đơn dưới danh nghĩa của Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc và các gói quà tặng.  Số truyền đơn do Sở TLC thực hiện gồm có 2 loại:  một loại thả theo các gói quà, loại khác do súng cối 81 ly đặt trên các PTF bắn vào bờ.  Số truyền đơn và quà tặng được chuyển từ Sở TLC ra cho Sở PVDH.  Sở PVDH dùng các chiến đỉnh PTF để thả các gói quà trên biển Bắc vĩ tuyến 17 hoặc bắn vào bờ.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;    e. Hành Quân Ðặc Biệt tên là LURE:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;    Trên các truyền đơn thả theo các gói quà trên biển, Mặt Trận Gươm Thiêng Ái Quốc kêu gọi các tàu của Bắc Việt trốn vào miền Nam Việt Nam.  Sở PVDH dùng ghe máy có tên là NAUTILUS (NI) thả neo túc trực tại phía Nam Vĩ Tuyến 17.  Trường hợp tàu của Hải Quân Bắc Việt vượt tuyến vào Nam đầu thú, sẽ được cán bộ và thủy thủ đoàn của chiếc NI đón tiếp.  Ngoài phần thưởng đặc biệt dành cho Thuyền Trưởng và Thuyền Phó, mỗi thủy thủ đều được Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà lo chổ ăn, ở và mỗi người đều được thưởng 100 lượng vàng để sinh sống.  Cuộc hành quân này kéo dài gần ba tháng mới chấm dứt.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Tóm Lượt:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Qua những thành tích hoạt động và chiến tích của Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Sở đã được 2 lần tuyên dương công trạng trước Quân Ðội, được ân thưởng 2 ANH DŨNG BỘI TINH với Nhành Dương Liễu và cờ đơn vị được mang dây Biểu Chương Màu Anh Dũng Bội Tinh.  Ngoài ra, năm 1967, Sở PVDH cũng được Bộ Tư Lệnh Hải Quân Hoa Kỳ ân thưởng 1 huy chương "MERITERIOUS SERVICE".&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Khi Hải Quân Trung Tá Hồ Văn Kỳ Thoại được vinh thăng Ðại Tá và được bổ nhiệm chức vụ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải thì Hải Quân Ðại Tá NGUYỄN VIẾT TÂN thay thế cho đến ngày 30.4.1975.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Cũng nói thêm là, sau khi chính phủ Hoa Kỳ ngưng oanh tạc Bắc Việt vào ngày 1.11.1968 thì mọi hoạt động của Sở PVDH tại Bắc vĩ tuyến 17 đều chấm dứt.  Từ đó, Sở này được tăng cường phối hợp hành quân với các đơn vị bạn tại Quân Ðoàn I và Quân Ðoàn IV, cho đến ngày 30.4.1975.  Số chiến đỉnh SWIFT và PTF cũng được phía Hoa Kỳ chuyển về Subic Bay ở Phi Luật Tân trước ngày 30.4.1975.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Nói chung, kể từ ngày thành lập cho đến ngày Bắc Việt cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam, Sở Phòng Vệ Duyên Hải đã cùng với các đơn vị khác của Nha Kỹ Thuật đóng góp nhiều chiến tích oai hùng và cũng là một Nét Son trong Quân Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;NGUYỄN THANH HOÀI&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Cựu Quân Nhân Sở Phòng Vệ Duyên Hải&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Nha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu, QLVNCH. &lt;/&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2533462898413902860-6653063246031904393?l=biethai.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://biethai.blogspot.com/feeds/6653063246031904393/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/08/so-phong-ve-duyen-hai.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/6653063246031904393'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/6653063246031904393'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/08/so-phong-ve-duyen-hai.html' title='Sở Phòng Vệ Duyên Hải / Nguyen Thanh Hoai'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SoAzR5j9wXI/AAAAAAAAFqA/EP4Te4vYDQ8/s72-c/Bia-SPVDH-Color2.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2533462898413902860.post-4748992513273160925</id><published>2009-08-12T11:59:00.000-07:00</published><updated>2009-08-12T12:16:46.763-07:00</updated><title type='text'>Đi Vào Lòng Địch</title><content type='html'>&lt;div align="center"&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SoMT8Nd_y9I/AAAAAAAAFwk/Rny-OaE_CQY/s1600-h/353651158pmsgNj_fs.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5369157105884318674" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 400px; CURSOR: hand; HEIGHT: 276px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SoMT8Nd_y9I/AAAAAAAAFwk/Rny-OaE_CQY/s400/353651158pmsgNj_fs.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;SPVDH  Biệt Hải (Người Nhái) Nguyễn Văn Kiệt, Đại Úy Navy Seals Tom Norris, Hắc Long Phạm Hòa và Chỉ Huy Trưởng  Ngưòi Nhái HQ/VNCH Nguyễn Tiến Hưng ( Căn Cứ Huấn Luyện Ngưòi Nhái Coronado San Diego California ) &lt;/div&gt;&lt;div align="left"&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Câu chuyện thật của một Người Nhái Hải Quân VNCH&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thế Trân (Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Kiệt và dữ kiện trong các trang web)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Lời ngỏ: Cuối năm 2001 người xem TV các chương trình “Suicide Missions” (History Channel), “Navy SEALs: Untold stories” (TLC - The Learning Channel) sẽ thấy một nhân vật Việt Nam tên Kiệt được nhắc đến trong những chuyến công tác chưa bao giờ được kể lại. Nhân vật này là ai? Tình tiết trong các phim tài liệu đó có chính xác không? Mời đọc giả đi ngược thời gian ….&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Cách đây gần 30 năm về trước, vào mùa hè năm 72 được biệt danh là “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Cộng sản Bắc Việt (CSBV) mở cuộc tấn công xâm lăng miền Nam Việt Nam ở ba mặt trận: Quảng Trị, Cao Nguyên, An Lộc. 30 ngàn quân CSBV trang bị vũ khí tận răng, tràn qua vùng phi quân sự (DMZ) ở vĩ tuyến 17, vượt tràn qua sông Bến Hải. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và đồng minh ở trong thế giằng co với kẻ địch ….&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trong một chuyến thám thính thâu lượm tin tức, chiếc máy bay EB-66 của không lực Hoa Kỳ bất thình lình bị hỏa tiễn SAM bắn hạ. Vừa kịp tung ra khỏi máy bay, Trung Tá Iceal “Gene” Hambleton kinh hãi chứng kiến cảnh chiếc máy bay bùng nổ làm thiệt mạng 5 người còn lại trong phi hành đoàn. Chiếc dù từ từ lượn xuống, dù bị mây mù che phủ không thấy đất, Trung Tá Hambleton biết chắc là 30 ngàn địch quân đang chờ mình dưới đất. Thế là guồng máy quân sự của đồng minh bắt đầu một cuộc “tìm kiếm và giải cứu” (search and rescue) đắt giá và tổn hại nhất trong cuộc chiến. Hai chiếc trực thăng Bộ Binh vừa nhào đến địa điểm giải cứu liền bị bắn hạ. Phi hành đoàn 4 người của chiếc Blueghost 39 thiệt mạng tại chỗ. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Chiếc trực thăng thứ nhì ráng “lết” đến một địa điểm an toàn và phi hành đoàn được một chiếc trực thăng khác đến giải cứu.Màn đêm buông xuống, Trung Tá Hambleton trơ trọi một mình dưới đất trong sự che chở của rừng rậm, bủa vây tứ bề bởi một lực lượng địch quân lớn nhất trong cuộc chiến VN. Hôm đó là ngày Phục Sinh, chủ nhật 2 tháng 4, 1972. Không quân Hoa Kỳ (HK) biết vị trí của Trung Tá Hambleton nhưng không tài nào với tới nổi ông ta vì địch quân bủa vây dầy đặc. Tối đó họ chỉ có thể thả mìn xung quanh ông ta để ngăn cản địch quân tới gần. Sáng hôm sau, chiếc trực thăng “Jolly Green 65″ bay tới gần vị trí của Trung Tá Hambleton thì lập tức bị “dàn chào” bởi một trận mưa đạn tàn khốc. Lại phải “lết” về. Chuyến kế của “Jolly Green 66″ cũng không khấm khá. Đạn bắn rát từ tứ phía như xé nát chiếc trực thăng. Và cũng phải “lết” về lại căn cứ. Trước khi màn đêm phủ xuống vào ngày Thứ Hai, một chiếc máy bay hỗ trợ cho cuộc giải cứu bị hỏa tiễn SAM bắn hạ. Đại Uý William Henderson và Trung Úy Mark Clark nhảy dù thoát hiểm, đáp xuống đất gần vị trí của Trung Tá Hambleton. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Cuộc giải cứu bây giờ không phải cho một người nữa, mà cho 3 sĩ quan Hoa Kỳ, mỗi người lạc một lối. Dưới đất, 3 người phi công HK chứng kiến tận mắt trong nỗi niềm thất vọng khi thấy các loạt giải cứu kế tiếp bị đẩy lui bởi hỏa lực tàn khốc của địch. Chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, 3 máy bay bị bắn hạ, 5 chiếc bị thiệt hại nặng nề, 4 người thiệt mạng. Và xui xẻo thay tối đó Đại Úy Henderson bị CSBV lùng bắt được. Trong khi đó, quân đội HK khám phá ra rằng Trung Tá Hambleton từng phục vụ với Bộ Tư Lệnh Chiến Lược Không Quân (Strategic Air Command). &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Ông ta giữ trong đầu một kho kiến thức về hệ thống hỏa tiễn nguyên tử, cái loại dữ kiện không thể để rơi vào tay kẻ địch. Bằng mọi giá phải giải cứu cho được Trung Tá Hambleton.Những ngày kế tiếp, không lực HK mở nhiều cuộc tấn công xung quanh cầu Cam Lộ. Vì hỏa lực địch quá mạnh, không chiếc máy bay nào có thể xuyên thủng vòng vây được. Trái lại hầu hết đều bị bắn hư hại nặng. Mọi người đều nhận ra là kẻ địch đang dùng hai phi công Hoa Kỳ làm mồi để nhử các chuyến giải cứu vào để tiêu diệt. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đến ngày 6 tháng 4, tổng cộng có đến 52 chiếc máy bay và 4 chiếc B-52 oanh tạc liên tục chung quanh vùng Cam Lộ. Trong lúc đó, chuyến phi hành “Jolly Green 67″ chuẩn bị để thực hiện cú “chộp” lấy Trung Tá Hambleton. Chiếc trực trăng “Jolly Green 67″ gần đáp xuống vị trí của Trung Tá Hambleton giữa khói lửa mịt mù, giữa những lằn đạn của địch cào nát phi cơ. Bị bắn quá rát, trực thăng rút lên không kịp, rơi sầm xuống đất nổ tung. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thiệt mạng tất cả phi hành đoàn 6 người. Trung Tá Hambleton gục khóc khi thấy biết bao nhiêu người thiệt mạng chỉ để giải cứu lấy mình. Bằng mọi giá ông ta tự nhủ cũng phải sống còn…. Ngày 7 tháng 4, một chiếc máy bay khác hỗ trợ cuộc giải cứu lại bị bắn hạ. Trung Úy Bruce Walker và Trung Úy Larry Potts bị thất tung.Ngày 9 tháng 4, quân lực HK nhận thấy cuộc giải cứu kết hợp nỗ lực của nhiều binh chủng không thành công. 5 phi cơ bị bắn hạ, 9 quân nhân bị thiệt mạng, 2 người là tù binh, mất tung tích 2 sĩ quan khác. Không lực Hoa Kỳ gần như bó tay chưa biết tính toán như thế nào.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Lúc bấy giờ, Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến Al Gray đưa ra một đề nghị khác: một cuộc giải cứu âm thầm bằng đường bộ. Ai thực hiện công tác này? Câu trả lời: Biệt kích Mỹ và Việt. Đại Úy Thomas Norris - (hình trái) - US Navy SEAL cùng 5 Người Nhái (Frogmen) Việt Nam từ căn cứ Đà Nẵng đến để chuẩn bị. Cùng lúc đó, không lực HK ra tín hiệu cho hai phi công HK kẹt trong lòng địch tìm cách tới điểm hẹn. Trung Úy Clark đang ở gần sông Cam Lộ, chảy về hướng Đông ra Cửa Việt. Tối ngày 10 tháng 4 sẽ men theo ven sông đến điểm hẹn. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Còn Trung Tá Hambleton cách giòng sông gần 2 cây số cần phải được hướng dẫn để len lỏi qua vòng đai địch quân dầy đặc để đến bờ sông. Toán biệt kích tập trung tại một tiền đồn (forward operating base) nằm trên một ngọn đồi thấp cạnh sông Miếu Giang, quận Cam Lộ. Nhóm Người Nhái Việt Nam gồm có một Đại Úy trưởng toán, hai Hạ Sĩ Nhất, và hai Hạ Sĩ. Kiệt, 27 tuổi, lúc bấy giờ là Hạ Sĩ Nhất Trọng Pháo, thuộc sở Phòng Vệ Duyên Hải, và cũng là một Biệt Hải được huấn luyện theo mô hình của US Navy SEALs.Từ tiền đồn, Norris cùng với nhóm Biệt Hải đi ngược dòng sông để giải cứu cho Trung Úy Clark trước, rồi Hambleton sau đó. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Khi màn đêm buông phủ ngày 10 tháng 4, đội biệt kích khởi hành. 6 người trơ trọi trong bóng đêm đối đầu với một lực lượng địch quân đã bất chấp sức mạnh của không lực HK. Thoạt đầu, toán biệt kích dự tính bơi ngược dòng sông để gặp Trung Úy Clark trôi xuôi dòng xuống. Nhưng vì dòng nước chảy mạnh quá nên cả toán đành phải xâm nhập bằng đường bộ theo ven bờ sông. Toán biệt kích chậm rãi tiến từng bước trong màn đêm, vượt qua mặt từng đoàn thiết giáp, xe hàng, và các toán tuần tiễu thường xuyên canh phòng. Đây là một việc chậm rãi, nguy hiểm và có thể trở thành chết người trong nháy mắt. Nhóm điều hành chuyến giải cứu biết là nguy hiểm nên đã dặn cả toán là đừng đi quá một cây số vào cứ địa của địch ở thượng nguồn. Nhưng toán biệt kích biết là như vậy không đủ nên tiếp tục âm thầm vượt qua tai mắt kẻ địch để cuối cùng dừng lại và chờ … 2 cây số ở thượng nguồn.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Gần 3 giờ sáng, toán biệt kích phát hiện một vật di động xuôi dòng sông. Đó chính là Trung Úy Clark. Trước khi cả toán bắt đầu cuộc giải cứu thì một toán tuần tiễu của địch xuất hiện. Cả toán lặng yên chờ đợi trong khi Trung Úy Clark cứ trôi xuôi dòng sông. Đến khi kẻ địch đã đi qua thì Trung Úy Clark cũng biến dạng trên dòng sông nước chảy mạnh. Cả toán biệt kích rút lui đi dọc theo bờ sông để truy lùng Clark. Cuối cùng toán phát hiện ông ta đang ẩn núp ở ven sông. Trời đã hừng sáng, tuy đã tìm được Trung Úy Clark nhưng cả nhóm vẫn còn ở sâu trong vùng địch. Hết sức chậm rãi và cẩn trọng, toán biệt kích tiếp tục chuyến hành trình đào tẩu khỏi vùng địch. Trưa hôm đó, cả toán về đến vùng an toàn. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trung Úy Clark được bốc về Đà Nẳng. Toán biệt kích còn ở lại tiền đồn. Công tác của họ chưa xong vì vẫn còn một phi công HK cần giải cứu. Ngày hôm sau, 11 tháng 4, toán biệt kích chuẩn bị lên đường. Trong chuyến giải cứu hôm trước cả toán đã chứng kiến tận mắt lực lượng địch quân dầy đặc. Vì thế trước khi toán biệt kích lên đường, không lực HK đã dội bom phủ đầu các vị trí địch để dọn đường. Địch quân liền trả đũa với hàng loạt mọt chê bắn phủ đầu lên tiền đồn quân lực VNCH.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thật là xui xẻo, người Đại Úy Biệt Hải Việt Nam và Trung Tá Anderson (cố vấn cho nhóm biệt kích) bị thương. Một Biệt Hải hộ tống hai người trở lại hậu cứ. Nhóm biệt kích chỉ còn lại 4 người: Tom Norris và 3 Biệt Hải VN. Nhóm biệt kích 4 người còn lại vẫn tiếp tục nhiệm vụ giải cứu. Họ lên đường rạng tối ngày 12 tháng 4. Lần này cả toán mạo hiểm gần 4 cây số sâu vào lòng địch. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Càng vào sâu, nhìn thấy địch quân dầy đặc tứ bề, 2 người trong toán biệt kích e ngại và không muốn tiến thêm.. Nhưng rồi cuối cùng cả nhóm vẫn tiến tới để truy tìm Trung Tá Hambleton. Trời đã hừng sáng mà không thấy tăm tích ông ta đâu cả, toán biệt kích đành thất vọng rút lui. Trung Tá Hambleton, 53 tuổi, sau 10 ngày trốn tránh, đói khát sức khoẻ kiệt quệ, đầu óc mụ mẫm đi, phương hướng lẫn lộn. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thời gian không còn bao lâu trước khi ông ta gục ngã chết lịm trong rừng già. Hôm sau trong khi toán biệt kích nghỉ dưỡng sức thì không lực HK liên lạc bằng tín hiệu với Trung Tá Hambleton, động viên tinh thần ông ta cố gắng gượng sức để ra đến chỗ hẹn. Sức khoẻ của ông đã đến hồi nguy kiệt. Nếu toán biệt kích không “chộp” được ông tối nay thì có lẻ đó sẽ là cơ hội cuối cùng. Họ cũng lượng định rằng trong tình trạng sức khoẻ như vậy, Trung Tá Hambleton khó mà đến chỗ hẹn. Nếu muốn thành công, toán biệt kích phải đi tìm cho ra được ông ta.Trong chuyến đi này, 2 Biệt Hải VN từ chối không tham dự. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Người duy nhất tình nguyện đi là Hạ Sĩ Nhất Nguyễn Văn Kiệt, Liên Đoàn Người Nhái, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Đối diện với hiểm nguy, Kiệt vẫn tình nguyện đi vì yêu chuộng sự hào hùng của ngành Biệt Hải, và cũng vì lòng nhân đạo không nỡ thấy người sắp chết mà không cứu. Hai biệt kích, một Mỹ, một Việt. Tom Norris và Kiệt mặc quân phục ngụy trang như bộ đội chính quy Bắc Việt, trang bị súng AK-47.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Họ quyết định dùng xuồng đi ngược dòng sông lên hướng Bắc. Như thế sẽ lẹ hơn đi đường bộ và mới có đủ thời giờ để truy tìm Trung Tá Hambleton. Trong màn đêm, tay chèo, tay súng, họ nghe rõ mồn một tiếng trò chuyện của địch quân canh gác ven sông, tiếng gầm rú của xe tăng T-54, tiếng di động của cả đoàn quân hùng hậu.. Họ chèo chậm rãi để tránh tai mắt kẻ địch. Một màn sương mù phủ lấp dòng sông che chở họ khỏi sự dòm ngó của kẻ thù nhưng đồng thời lại làm cho họ chậm tay chèo. Và họ cũng không ngờ là họ chèo gần đến cầu Cam Lộ, nơi địch quân đóng giữ. Khi nghe tiếng chân bộ đội Bắc Việt tuần tiễu đi lại trên cầu, họ mới biết là đi lố. May mắn là sương mù che phủ khắp vùng nên Tom và Kiệt không bị phát hiện. Họ chèo trở ngược lại, xuôi dòng sông và tìm kiếm Trung Tá Hambleton. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Rồi cuối cùng Tom và Kiệt cũng tìm ra Trung Tá Hambleton, một thân hình tong teo gục ngã gần bờ sông. Ông ta chỉ còn thoi thóp thở. Tom và Kiệt đem Trung Tá Hambleton lên dấu dưới đáy xuồng, lấy lá chuối che phủ thân hình ông ta. Họ bắt đầu cuộc hành trình rút lui khỏi vùng địch, thoát khỏi gọng kềm của tử thần, vẫn một cách chậm rãi như mọi khi. Lúc bấy giờ hừng đông đã ló dạng. Bất thình lình, Kiệt nghe tiếng gọi “Ê, lại đây!”. Cả hai người cùng quay đầu lại và bắt gặp 3 tên lính Bắc Việt xa xa trên bờ. Tên đi giữa là sĩ quan, vắt khẩu K54. Hai tên cận vệ kè kè AK-47 hai bên. Khoảnh khắc đó thật dài như thế kỷ. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Kiệt cảm thấy ớn lạnh dọc theo xương sống. Nhưng cả hai người đều bình tĩnh quay đầu trở lại, tiếp tục chèo xuồng xuôi huớng Nam. Vừa chèo, Kiệt đã bắt đầu đếm thời gian và lắng nghe tiếng súng của bọn chúng sẽ bắn theo. Nhưng chúng hoàn toàn im lặng. Một cái im lặng đáng nghi ngờ và hồi hộp vô cùng. Kiệt ráng lắng nghe tiếng chân rầm rập đuổi chạy theo. Nhưng tất cả không gian lúc ấy hoàn toàn trở lại bình thường im lặng. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Một sự tĩnh mịch khó hiểu. Có thể chúng sẽ liên lạc máy để chận xuồng ở một đoạn sông sắp đến? Hay chúng đang chỉ điểm để pháo kích theo? Bấy giờ là giờ phút hết sức căng thẳng trong tâm não của Kiệt. Bao nhiêu giác quan của Kiệt được tận dụng tập trung quan sát để phản ứng kịp thời … Tom lập tức báo cáo bằng radio là đã giải cứu được Trung Tá Hambleton. Tuy thế chuyến giải cứu chưa xong vì họ vẫn còn sâu trong lòng địch và khi trời hừng sáng, sự ngụy trang của họ không qua mặt được kẻ địch. Vì thế, không lực HK được điều động sẵn để hỗ trợ bất cứ lúc nào. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đúng như Kiệt dự đoán, kẻ địch đã báo động về sự xâm nhập của chiếc xuồng biệt kích. Tiếng la hét, tri hô vang dậy cả bầu không khí tĩnh mịch. Cuộc truy đuổi bắt đầu. Tom và Kiệt chèo hối hả, mượn dòng nước chảy mạnh để đưa con xuồng đi thật lẹ, cũng như nhờ cậy vào các tàng cây dầy đặc ven sông che dấu bớt hình ảnh chiếc xuồng mong manh. Trong khi đó đạn của địch không ngừng bắn xối xả ngang sông. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thấy hỏa lực địch quá mạnh, Tom và Kiệt tấp xuồng vào một bụi cây ven sông và gọi không lực yểm trợ ngay lập tức. Không gian yên lặng của đoạn sông bị xé nát bởi những lằn đạn bắn tứ phía. Đạn từ trên không bắn xuống, đạn từ dưới đất bắn lên, đạn từ hai bên bờ nhả xuống sông lia lịa. Và cũng nhờ sự yểm trợ không lực mạnh mẽ và liên tục, Tom và Kiệt cuối cùng cũng đưa con xuồng xuôi dòng an toàn. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Khi gần đến tiền đồn của quân lực VNCH, quân đội hai bên dàn trận ra “tiếp đón” lần nữa. Cộng Sản Bắc Việt bên bờ Bắc, quân đội VNCH bên bờ Nam. Hai bên nhả đạn bắn qua lại dữ dội. Dưới cơn mưa đạn đó, Tom và Kiệt dìu Trung Tá Hambleton khỏi xuồng và chạy chặng nước rút nguy hiểm cuối cùng vào hầm trú ẩn … Cuộc giải cứu đã thành công vượt sức tưởng tượng của mọi người. Khi mà cả không lực Hoa Kỳ bó tay thì những biệt kích Mỹ, Việt gan dạ cùng mình đi vào trong lòng địch, chộp các phi công ra khỏi gọng kềm của tử thần.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Câu chuyện trên, người ta có viết thành sách, Hollywood có chuyển thành phim với những tài tử quen thuộc thủ vai các nhân vật chính trong câu chuyện. Vậy mà 2 nhân vật “CHÍNH” nhất trong truyện là Đại Úy Hải Quân (Navy SEAL) Hoa Kỳ Thomas Norris và Hạ Sĩ Nhất Nguyễn Văn Kiệt, Liên Đoàn Người Nhái, Hải Quân VNCH không hề được nhắc đến. Hành vi dũng cảm, gan dạ phi thường này chỉ có một số người được biết để bảo vệ các dữ kiện quân sự liên hệ đến các chuyến giải cứu đường bộ. Đại Úy Thomas Norris được trao tặng huân chương “Medal of Honor”. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Huân chương cao quý nhất của quân đội Hoa Kỳ trao cho những chiến sĩ đã có hành động dũng cảm phi thường. Hạ Sĩ Nhất Nguyễn Văn Kiệt, người Nhái anh dũng của Hải Quân VNCH, được trao tặng huân chương “Navy Cross”. Huân chương cao nhất có thể trao tặng cho quân đội đồng minh. Kiệt là người chiến sĩ Hải quân VNCH duy nhất nhận huân chương “Navy Cross” trong cuộc chiến Việt Nam. Đến nay đã gần 30 năm. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Hồ sơ quân sự cũng đã được tiết lộ (declassify) . Rồi cuối cùng những hành động dũng cảm, anh hùng này đã được mọi người biết đến.&lt;/strong&gt; &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2533462898413902860-4748992513273160925?l=biethai.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://biethai.blogspot.com/feeds/4748992513273160925/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/08/i-vao-long-ich.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/4748992513273160925'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/4748992513273160925'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/08/i-vao-long-ich.html' title='Đi Vào Lòng Địch'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SoMT8Nd_y9I/AAAAAAAAFwk/Rny-OaE_CQY/s72-c/353651158pmsgNj_fs.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2533462898413902860.post-794631160713228926</id><published>2009-08-10T07:47:00.000-07:00</published><updated>2009-08-13T11:40:12.069-07:00</updated><title type='text'>Sở Phòng Vệ Duyên Hải</title><content type='html'>&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SoAzR5j9wXI/AAAAAAAAFqA/EP4Te4vYDQ8/s1600-h/Bia-SPVDH-Color2.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5368347138428092786" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 302px; CURSOR: pointer; HEIGHT: 400px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SoAzR5j9wXI/AAAAAAAAFqA/EP4Te4vYDQ8/s400/Bia-SPVDH-Color2.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk5ZlNEm12I/AAAAAAAAEk8/zIlGuCTTcH8/s1600-h/SPVDH23.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5354315502689113954" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 221px; CURSOR: hand; HEIGHT: 221px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk5ZlNEm12I/AAAAAAAAEk8/zIlGuCTTcH8/s400/SPVDH23.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;I. Phần Mở Đầu&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Cuộc chiến tranh tại Việt Nam giữa hai khối Quốc Gia và Cộng Sản diễn ra dưới nhiều hình thái trong đó đôi bên tìm đủ mọi cách để chiếm lợi thế và loại đối thủ ra ngoài vòng chiến. Nhiều sách báo và phim ảnh đã phân tích tỉ mỉ và tường thuật rất rõ ràng về những trận đánh nổi tiếng như Tết Mậu Thân, Hạ Lào, Quảng Trị, Kontum, An Lộc v.v... trong đó quân số đôi bên tham chiến lên tới nhiều sư đoàn. Tuy nhiên, ngoài mặt "nổi" hay chiến tranh qui ước nêu trên được nhiều người biết đến, còn có mặt "chìm" hay chiến tranh đặc biệt ít được phổ biến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói tới chiến tranh đặc biệt, ngay kẻ trong cuộc cũng chỉ biết được phần nhiệm của mình, còn người bên ngoài lại càng không rõ, ngoài cái tên Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB). Nhìn chung, LLĐB gồm nhiều quân binh chủng thuộc QLVNCH, đôi khi có cả dân sự, có nhiệm vụ xâm nhập hậu phương hay vùng địch kiểm soát bằng những toán nhỏ để thu thập tin tức tình báo, phá hoại, bắt cóc hay tuyên truyền. Vì những cuộc hành quân "trong bóng tối" này rất nguy hiểm nên đại đa số nhân viên thuộc LLĐB đều là người tình nguyện. Chúng ta thường nghe nhắc đến những toán Lôi Hổ, Delta, Biệt Cách Dù v.v... thuộc Bộ Binh hoặc Phi Đoàn 219 của Không Quân, còn riêng về Hải Quân, ngoài lực lượng Biệt Hải, phần còn lại vẫn còn bao trùm trong màn bí mật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong mỗi cuộc hành quân đặc biệt xâm nhập hậu tuyến địch, nhất là tại những vùng "ngoại biên" (ngoài lãnh thổ VNCH) như Bắc Việt, Lào, Cam Bốt, lực lượng tham dự thường chia làm hai thành phần: toán hành động, thường được gọi tắt là "toán" (team) có nhiệm vụ "đổ bộ" để thi hành công tác được trao phó và toán yểm trợ chịu trách nhiệm chuyên chở, đổ và bốc toán hành động cũng như yểm trợ hỏa lực khi cần. Các toán Bộ Binh vì không có phương tiện chuyên chở và yểm trợ cơ hữu như phi cơ hay tầu bè và nên chỉ có thể đảm nhiệm công tác hành động. Ngược lại, Không Quân vì không có toán hành động riêng nên chỉ có thể thi hành công tác chuyên chở và yểm trợ. Riêng Hải Quân là quân chủng duy nhất có thể tự đảm trách những cuộc hành quân đặc biệt vì trong tổ chức đã có đủ hai thành phần quan yếu nói trên.&lt;br /&gt;Ngoài ra, trong khi những cuộc hành quân đặc biệt do Phi Đoàn 219 và các toán Lôi Hổ, Delta v.v... chịu trách nhiệm phần lớn chỉ xảy ra trong lãnh thổ Việt Nam, Lào hay Cam Bốt, còn các vụ xâm nhập lãnh thổ Bắc Việt về sau này hầu như hoàn toàn do Hải Quân VNCH tự đảm trách bằng những đơn vị cơ hữu. Thành phần hành động của Hải Quân là Lực Lượng Biệt Hải, còn đơn vị yểm trợ và chuyên chở được gọi là Lực Lượng Hải Tuần (LLHT). Về phương diện hành quân, LLHT là đơn vị duy nhất thuộc LLĐB có thể tự thi hành một số công tác đặc biệt tại Bắc Việt như pháo kích các mục tiêu trên bờ, bắt giữ các ngư phủ để khai thác tin tức tình báo, thả truyền đơn v.v... mà không cần sự trợ giúp của các lực lượng khác. Cả hai Lực Lượng Hải Tuần và Biệt Hải nằm dưới quyền chỉ huy của Sở Phòng Vệ Duyên Hải (SPVZH).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi tìm hiểu thêm về mặt tổ chức cũng như những hoạt động của SPVZH, tưởng cũng nên minh xác đôi điều để tránh mọi hiểu lầm đáng tiếc. Bài viết này căn cứ phần lớn vào những điều chúng tôi biết và còn nhớ qua 5 năm liên tiếp đảm nhiệm chức vụ Hạm Phó cũng như Hạm Trưởng nhiều khinh tốc đĩnh (PTF - Patrol Torpedo Fast) thuộc LLHT và đã tham dự trên 100 chuyến công tác đủ loại tại hải phận Bắc Việt từ năm 1965 đến 1970. Một số biến cố xảy ra trước và sau khoảng thời gian này chúng tôi chỉ được nghe kể lại hoặc thâu thập được trong những cuộc phỏng vấn những người trong cuộc mới đây. Vì vậy, dù cố gắng trình bày sự thật khách quan, nhưng thời gian thế nào cũng làm trí nhớ mai một phần nào, nên không sao tránh khỏi sai sót, mong những vị "biết chuyện", nhất là các bạn đồng đội cũ vui lòng đóng góp ý kiến và bổ khuyết để trang Hải Sử về LLHT được thêm phần trung thực. Chúng tôi cũng minh xác chỉ muốn trình bày sự thật, không hề có ý phê bình hoặc chỉ trích bất cứ ai, đặc biệt với những người chúng tôi hằng mến mộ và kính phục là các tác giả Việt - Mỹ đã bỏ công lao nghiên cứu, sưu tầm tài liệu và viết về SPVZH và LLHT. Trân trọng cám ơn.&lt;br /&gt;Vì SPVZH là một đơn vị thuộc LLĐB, tưởng cũng nên duyệt qua phần nhân sự cũng như tổ chức của lực lượng này để việc theo dõi được mạch lạc và dễ hiểu hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;II. Sơ Lược Về Các Tổ Chức &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Xâm Nhập Miền Bắc &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ngay sau khi hiệp định đình chiến Genève phân chia hai miền Nam - Bắc Việt Nam vừa được ký kết vào năm 1954, Giám Đốc Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) là ông Allen Dulles đã chỉ thị Đại Tá Không Quân Edward Lansdale sang Việt Nam để hỗ trợ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm củng cố Miền Nam cũng như tổ chức những cơ sở bán quân sự nằm vùng tại Bắc Việt trước khi Cộng Sản (CS) kiểm soát. Đại Tá Lansdale lúc đó đang đảm nhiệm chức vụ Phó Giám Đốc Phòng Hành Quân Đặc Biệt thuộc Bộ Quốc Phòng do Thiếu Tướng Graves Erskine làm Giám Đốc. Sở trường của ông là điều hành những hoạt động phản du kích "mật" trong bóng tối, trước đây đã giúp Tổng Thống Phi Luật Tân Magsaysay của Phi Luật Tân thành công trong việc tiêu diệt loạn quân CS Huk trong khoảng giữa thập niên 1950. Tổ chức của Đại Tá Lansdale tại Việt Nam được gọi là Phái Bộ Quân Sự Sài Gòn (Saigon Military Mission), trong đó còn có một chuyên viên điệp báo là Thiếu Tá Bộ Binh Lucien Conein, người sau này nắm giữ một vai trò rất quan trọng trong những cuộc chính biến dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay trước khi miền Bắc được trao cho CS, nhiều nhân viên dân sự người Việt do Đại Tá Lansdale tuyển mộ, đa số thuộc sắc tộc Nùng sinh trưởng tại vùng Móng Cái gần Hải Phòng và biên giới Hoa - Việt, đã được gửi sang đảo Saipan để huấn luyện về kỹ thuật xâm nhập, nằm vùng và phá hoại. Khi Việt Nam chính thức bị chia đôi, họ đã được huấn luyện thuần thục và chia thành từng toán nhỏ, sau đó được các chiến hạm Hoa Kỳ thuộc Đệ Thất Hạm Đội đổ bộ vào khu vực bờ biển gần nguyên quán. Những nhân viên này được lệnh trà trộn với thân nhân, "nằm yên" không hoạt động gì cả cho tới khi nhận được chỉ thị. Vũ khí, máy truyền tin và vàng đã được dấu sẵn trước tại những địa điểm bí mật để phòng khi cần tới. Một trong những "điệp viên chìm" trong thời gian này là Phạm Xuân Ẩn, nhưng Đại tá Lansdale không biết hắn là một tên VC nằm vùng được cài vào tổ chức của mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về phần Nam Việt Nam, sau khi tình hình tương đối ổn định, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng tổ chức riêng những cơ quan tình báo đặc biệt trực thuộc Phủ Tổng Thống do Bác Sĩ Trần Kim Tuyến người Huế đứng đầu. Một trong những bộ phận dưới quyền Bác Sĩ Tuyến, chuyên đảm nhiệm các hoạt động Biệt Kích là Sở Liên Lạc do Đại Tá Lê Quang Tung chỉ huy, Đại Tá Trần Khắc Kinh phụ tá. Người lo việc tuyển mộ nhân viên cho Sở Liên Lạc là Đại Úy Lê Quang Triệu, em ruột của Đại Tá Lê Quang Tung, lúc đó còn đảm nhiệm chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội Liên Binh Phòng Vệ Tổng Thống Phủ. Ngoài ra, ông Cố Vấn Ngô Đình Cẩn cũng có những tổ chức điệp báo riêng biệt tại Miền Trung.&lt;br /&gt;Sở Liên Lạc chia thành 3 bộ phận chính, đó là Sở Bắc, Sở Nam và Liên Đội Quan Sát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Sở Bắc &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Sở Bắc còn được gọi là Phòng 45 do Đại Úy Bộ Binh Ngô Thế Linh (sau này được thăng đến cấp Đại Tá), bí danh là "Bình" điều khiển. Tuy được mệnh danh là Sở Bắc nhưng cơ quan này không những chỉ đảm nhiệm các hoạt động Biệt Kich ở Bắc Việt, mà còn tổ chức những cuộc hành quân mật trên đất Lào và Cam Bốt. Tóm lại, Sở Bắc chịu trách nhiệm về những hoạt động Biệt Kích bên ngoài lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Sở Nam &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Sở Nam hay Phòng 55 do Đại Úy Bộ Binh Trần Văn Minh chỉ huy, chịu trách nhiệm về những hoạt động Biệt Kích trong lãnh thổ VNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3. Liên Đội 1 Quan Sát &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ngoài hai Sở Nam và Bắc, Sở Liên Lạc còn có một cơ cấu đặc biệt ít người biết đến, đó là Liên Đội Quan Sát 1 được thành lập vào năm 1956 với sự trợ giúp của Ngũ Giác Đài và CIA Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;Bề ngoài, Liên Đội chỉ là một tổ chức thông thường với một số nhân viên trực thuộc về mặt hành chánh, nhưng mọi công tác đều do Sở Liên Lạc điều động. Những nhân viên của Liên Đội được đặc biệt huấn luyện để thi hành các công tác "nằm vùng" ngay tại Miền Nam trong trường hợp nơi này bị rơi vào tay CS sau cuộc Tổng Tuyển Cử theo tinh thần hiệp định Genève. Mãi cho tới năm 1958 dù cuộc tuyển cử đã bị hủy bỏ, các toán công tác thuộc Liên Đội vẫn còn thực hiện những vụ chôn giấu vũ khí, chất nổ, máy truyền tin, vàng v. III. Các Đường Xâm Nhập&lt;br /&gt;Tới năm 1958, khi tình hình miền Nam đã tương đối ổn định, Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới chính thức yêu cầu Hoa Kỳ trợ giúp để thực hiện những hoạt động Biệt Kích tại Bắc Việt. Vì vậy, khi ông Wìlliams Colby thuộc CIA được cử đến Sài Gòn vào ngày 1 tháng giêng năm 1959 để sắp đặt các cơ sở cần thiết, những hoạt động Biệt Kích phối hợp giữa Hoa Kỳ và Việt Nam mới được chính thức bắt đầu. Nhìn chung các hoạt động xâm nhập Miền Bắc gồm 2 ngả chính là đường hàng không và đường biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Xâm Nhập Bằng Đường Hàng Không &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Về đường hàng không, thoạt tiên, CIA mướn một số phi công thuộc công ty Hàng Không Trung Hoa (China Air Lines - CAL) ở Đài Bắc để huấn luyện những phi công Việt Nam. Sau này, Phi Đoàn Vận Tải của Không Quân Việt Nam do Trung Tá Nguyễn Cao Kỳ làm Phi Đoàn Trưởng kiêm luôn những chuyến bay thả dù đặc biệt ngoài Bắc.&lt;br /&gt;Chuyến bay đầu tiên được thực hiện vào ngày 27 tháng 5 năm 1961 do chính Trung Tá Nguyễn Cao Kỳ là phi công chính của chiếc phi cơ C-47. Bốn nhân viên của toán Caster được thả dù xuống một vùng rừng núi thuộc tỉnh Sơn La. Họ đều là người Nùng gốc Sơn La, nguyên là quân nhân thuộc Sư Đoàn 22 Bộ Binh, một đơn vị có đa số quân nhân thuộc gốc người thiểu số miền Bắc di chuyển vào miền Nam. Toán Caster được đặt dưới quyền điều động của Sở Khai Thác Địa Hình thuộc Phòng 45 tức là Sở Bắc. Trưởng toán Caster tên là Hà Văn Chấp. Sau khi hoàn tất công tác thả toán, phi cơ của Trung Tá Kỳ rời khỏi Bắc Việt an toàn bằng ngả không phận Lào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Xâm Nhập Bằng Đường Biển &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Các hoạt động xâm nhập Bắc Việt bằng đường biển đã được khởi sự rất sớm, chỉ vài năm sau khi chia đôi đất nước. Những vụ xâm nhập bắt đầu vào năm 1956 khi Sở Liên Lạc cần một số ghe gỗ để chở nhân viên tăng cường cũng như tiếp tế vật liệu cho những toán "nằm vùng" ngoài Bắc bằng đường biển.&lt;br /&gt;Lúc đầu, chỉ có 6 nhân viên dân sự nguyên quán tỉnh Quảng Bình di cư được tuyển mộ tại Nha Trang để gia nhập lực lượng "biển" mới được thành lập này. Công tác bao gồm những chuyến đi ngắn chừng một vài ngày xâm nhập hải phận miền Bắc bằng những ghe nhỏ giống như ghe đánh cá ngoài Bắc để dễ trà trộn. Sau đó, vì nhu cầu công tác ngày một gia tăng, lực lượng xâm nhập "biển" tuyển mộ thêm nhiều nhân viên và trang bị thêm ghe lớn hơn. Lực lượng gồm toàn nhân viên dân sự này là một thành phần của Sở Bắc dưới quyền điều động của "ông Bình", có thể được coi là tiền thân của SPVZH và LLHT sau này.&lt;br /&gt;Tuy những chuyến tiếp tế và liên lạc bằng đường biển vẫn tiếp tục, nhưng mãi đến tháng 2 năm 1961, cơ quan mật vụ của Bác Sĩ Trần Quang Tuyến với sự trợ giúp cùa CIA Hoa Kỳ mới cho đổ bộ 2 điệp viên thực sự lên bờ biển Quảng Yên. Hai điệp viên này, một người gốc miền Nam, người thứ hai gốc miền Bắc tên là Phạm Chuyên lên bờ an toàn. Chuyên nguyên là một cán bộ trung cấp VC hồi chánh bằng cách vượt vĩ tuyến 17 vào năm 1959. Bí danh hoạt động của Chuyên là Ares. Sau này, có bằng cớ cho thấy Ares là một điệp viên nhị trùng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3. Ghe Nautilus &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Sau cuộc đổ bộ điệp viên này, các ghe dùng để xâm nhập hải phận Miền Bắc đều được đặt bí danh "Nautilus", lấy tên chiếc Tiềm Thủy Đĩnh bí mật của Hạm Trường Nemo trong cuốn truyện khoa học già tưởng "20,000 Dậm Dưới Đáy Biển" của văn hào Jules Verne. Các chuyến công tác cũng được gọi là Nautilus. Trong giai đoạn này, các chuyến xâm nhập bằng đường biển đều thành công tương đối dễ dàng.&lt;br /&gt;Đến lúc này, các công tác Nautilus đều do CIA điều hành. Thủy thủ đoàn Nautilus vẫn hoàn toàn là các nhân viên dân sự do CIA tuyển mộ, nhưng cũng đã có một số người nhái thuộc Hải Quân Việt Nam được CIA đặc biệt huấn luyện để thi hành những công tác phá hoại bằng chất nổ. Những người nhái này đa số thuộc toán 18 quân nhân được gửi đi thụ huấn khóa huấn luyện đặc biệt tại Đài Loan vào tháng 8 năm 1960.&lt;br /&gt;v... để chuẩn bị cho những công tác "nằm vùng" khi cần.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;IV. Thay Đổi Hệ Thống Chỉ Huy &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ban đầu, một số công tác Nautilus xâm nhập bằng đường biển đạt được kết quả khả quan vì địch chưa kịp đề phòng cũng như ứng phó. Nhưng càng về sau, hiệu năng càng giảm sút vì địch gia tăng lực lượng duyên phòng cũng như bị phản nên nhiều chuyến công tác bằng ghe đã thất bại vì bị lộ.&lt;br /&gt;Việc dùng ghe chỉ được lợi điểm có thể trà trộn với các thuyền đánh cá địa phương, nhưng nhờ khai thác tin tức từ các thủy thủ đoàn bị bắt, địch đã biết khá rành rẽ về đường đi nước bước của các chuyến xâm nhập nên cũng khó lòng lẩn tránh. Hơn nữa, các ghe Nautilus đều có vận tốc chậm và hỏa lực yếu nên không thể tự vệ khi bị phát hiện và săn đuổi.&lt;br /&gt;Vì những lý do trên, Đô Đốc Harry G. Felt, Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương (CINPAC - Commander In Chief, Pacific) cho rằng những tổ chức mật vụ của CIA không đủ khả năng để hoàn thành sứ mạng xâm nhập. Ông đề nghị dùng các phương tiện của Hải Quân Hoa Kỳ, trong đó có cả việc dùng tiềm thủy đĩnh thay thế cho các ghe Nautilus. Vào khoảng tháng 7-62, Tổng Trưởng Quốc Phòng McNamara triệu tập một buổi họp giữa Bộ Quốc Phòng, Bộ Ngoại Giao và CIA để tìm giải pháp. Mọi người đồng ý chuyển giao phần điều hành các hoạt động biệt kích xâm nhập Bắc Việt từ CIA qua Bộ Quốc Phòng. Việc chuyển giao sẽ được hoàn tất trong vòng một năm dưới kế hoạch mang bí danh Switchback. Tới tháng 12 năm 1962, Toán Đặc Biệt (Special Group) thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (National Security Council) cũng chấp thuận đề nghị của Đô Đốc Felt trước đây về việc xử dụng khinh tốc đĩnh và người nhái để đảm nhiệm những công tác đổ người lên miền Bắc. Tuy nhiên lúc đó cả tầu lẫn người nhái đều chưa có.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kế hoạch Switchback chính thức khởi đầu vào ngày 1 tháng giêng năm 1963. Từ đó, Bộ Tư Lệnh Quân Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn (MACV - Military Assistance Command Vietnam) chính thức thay thế CIA đảm nhiệm các công tác dọc theo biên giới lúc bấy giờ đang do nhân viên CIA Gilbert Layton chỉ huy. Đại Tá Geoge Morton thay thế Layton, thành lập Toán C Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB), đặt bản doanh tại Nha Trang với Layton ở lại làm phụ tá. Riêng các hoạt động ngoài Bắc, tuy do MACV điều động nhưng nhân viên CIA W.T Chenney vẫn chịu trách nhiệm. Tháng 4 năm 1963, một trung tâm huấn luyện LLĐB cũng được thiết lập tại Long Thành để huấn luyện các toán sẽ được thả ra ngoài Bắc trong khi CIA chuẩn bị bàn giao các hoạt động xâm nhập miền Bắc cho các giới chức quân sự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;V. Kế Hoạch 34A (OPLAN 34A) &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng 5 năm 1963, Bộ Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ chỉ thị Đô Đốc Harry G. Felt soạn thảo dự án yểm trợ chính quyền miền Nam Việt Nam thi hành những công tác đặc biệt ngoài Bắc. Tháng 6 năm 1963, Đô Đốc Felt và Bộ Tham Mưu phác họa kế hoạch hành quân sơ khởi dùng chiến thuật "đánh bất ngờ" (hit and run) với mục tiêu chiến lược buộc miền Bắc giảm bớt nỗ lực quân sự tại miền Nam. Theo kế hoạch này, quân lực VNCH đảm trách về phần nhân viên, còn Hoa Kỳ sẽ cung cấp phương tiện và huấn luyện. Kế hoạch soạn thảo sơ khởi mang tên OPLAN 34-63 được trình lên Bộ Tham Mưu Liên Quân (Joint Chiefs of Staff) và chấp thuận trên nguyên tắc vào ngày 14 tháng 8, chỉ một vài chi tiết nhỏ được yêu cầu thay đổi. Kế hoạch được tu chỉnh và được chấp thuận lần nữa vào ngày 9 tháng 9.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc Hội Nghị về Việt Nam tại Honolulu vào ngày 20 tháng 10, Williams Colby, lúc đó đã được thuyên chuyển về Hoa Thịnh Đốn giữ chức vụ Giám Đốc CIA toàn vùng Viễn Đông thay vì chỉ riêng có VN như trước, ngỏ ý với Bộ Trưởng Quốc Phòng rằng, theo kinh nghiệm của CIA, kế hoạch thả các toán nhỏ vào Bắc Việt sẽ không thành công. Nhưng các giới chức cao cấp Hoa Kỳ không đồng ý, cho rằng sở dĩ CIA thất bại vì thiếu phương tiện và khả năng, do đó chỉ thị cho CIA bàn giao kế hoạch xâm nhập miền Bắc lại cho quân đội.&lt;br /&gt;Trong lúc việc chuẩn bị tiến hành khả quan. một biến cố bất ngờ xảy ra khiến một số dự tính bị đảo lộn. Đó là cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào ngày 3 tháng 11 năm 1963 đã làm xáo trộn phần nhân sự về phía Việt Nam trong kế hoạch hành quân. Hai người cầm đầu ban Mật Vụ của Tổng Thống Diệm là Bác Sĩ Trần Kim Tuyến và Đại Tá Lê Quang Tung không còn nữa. Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm nhận chức Chỉ Huy Trưởng LLĐB rồi tới Đại Tá Lam Sơn Phạm Đình Thứ thay thế chỉ mấy tháng sau đó. Tuy nhiên, cả Phòng 45 tức Sở Bắc và Phòng 55 tức Sở Nam vẫn do Ngô Thế Linh và Trần Văn Minh điều khiển.&lt;br /&gt;Tuy nhiên, dù gặp trở ngại nhưng các công tác biệt kích bằng đường biển vẫn được tiến hành. Trong khuôn khổ kế hoạch 34-63, vào tháng 11 năm 1963, một số người nhái thuộc toán công tác đường biển rời Đà Nẵng ra Căn Cứ Hải Quân Cửa Việt để thực tập chuẩn bị cho công tác đánh phá tầu bè tại các quân cảng Bắc Việt gần vĩ tuyến 17 Bắc. Chuyến công tác được dự trù vào tháng 12 năm 1963, mục tiêu là những chiến đĩnh Bắc Việt tại căn cứ Hải Quân Quảng Khê nằm ở cửa sông Giang thuộc tỉnh Quảng Bình, nơi đặt Bộ Chỉ Huy Hải Quân Vùng Nam của Bắc Việt. Trước ngày công tác, các cố vấn Mỹ cho xem không ảnh căn cứ Quảng Khê. Nhưng chuyến công tác bị hủy bỏ nửa chừng vì thời tiết xấu. Một trong những người nhái tham dự là anh Vũ Văn Gương.&lt;br /&gt;Cho tới cuối năm 1963, dù có tiến bộ về mặt huấn luyện, nhưng những hoạt động bìệt kích vẫn không thâu thập được thành quả khả quan như ý muốn. Lý do vì tổ chức chưa được chặt chẽ và nhân viên phần lớn vẫn còn là dân sự nên thiếu huấn luyện chuyên môn cũng như kỷ luật quân đội, do đó cần sự tham gia tích cực của QLVNCH. Để hữu hiệu hóa các hoạt động, cả CIA và MACV được chỉ thị tu chỉnh OPLAN 34-63. Sau một thời gian làm việc, kế hoạch mới tu sửa mang tên OPLAN 34A, đặt trọng tâm vào việc xâm nhập bằng đường biển, được đệ trình Bộ Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ vào ngày 15 tháng 12 (CIA gọi là Kế Hoạch Tiger). Trước đó không lâu, vào ngày 12 tháng 12, Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara đã báo tin cho Đại Sứ Cabot Logde biết rằng Tổng Thống Johnson muốn đẩy mạnh những cuộc hành quân đặc biệt nhắm vào miền Bắc do lực lượng Nam Việt Nam đảm trách với sự hỗ trợ của quân lực Hoa Kỳ. Những cuộc hành quân này sẽ mang nhiều cường độ khác nhau để ngầm thông báo cho Bắc Việt rõ rằng Hoa Kỳ không chấp nhận việc CS xâm lăng miền Nam và nếu Bắc Việt cứ ngoan cố xử dụng võ lực, họ sẽ bị đánh bại. Nói tóm lại, mục đích chính của OPLAN 34A là phối hợp với các áp lực về quân sự và ngoại giao để cảnh cáo Bắc Việt không được gia tăng hoạt động ở Lào cũng như Nam Việt Nam. Như vậy, từ một kế hoạch đổ biệt kích do CIA điều khiển với mục tiêu thâu thập tin tức tình báo và phá hoại, OPLAN 34A vào giai đoạn này đã trở thành một kế hoạch nặng về chính trị.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp ứng chỉ thị của thượng cấp, cũng vào ngày 15 tháng 12, Hải Quân Hoa Kỳ thành lập Toán Yểm Trợ Lưu Động (MST - Mobile Support Team) tại Đà Nẵng. Toán này gồm một số người nhái HQ (SEAL), các sĩ quan chuyên về tình báo của Thủy Quân Lục Chiến và nhiều chuyên viên hành quân Biệt Hải Hoa Kỳ. Ngoài ra, còn có thủy thủ đoàn của hai Khinh Tốc Đĩnh (PT Boats) vừa mới tới Đà Nẵng. Nhiệm vụ của Toán MST là huấn luyện thủy thủ đoàn Việt Nam trong tương lai về cách xử dụng Khinh Tốc Đĩnh sẽ được dùng trong các công tác Biệt Hải, cũng như lo việc sửa chữa và yểm trợ.&lt;br /&gt;Đến ngày 19 tháng 12, Bộ Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ Tại Thái Bình Dương yêu cầu Bộ Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ cho phép thi hành kế hoạch mới OPLAN 34A trong khoảng thời gian 12 tháng để trắc nghiệm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;VI. Thành Lập MACSOG Và Nha Kỹ Thuật &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Một điều đáng để ý là tuy OPLAN 34A dự trù xử dụng quân lực miền Nam, nhất là quân chủng Hải Quân, nhưng phía VNCH lại không được tham khảo ý kiến khi soạn thảo để kịp thời chuẩn bị. Mãi tới ngày 21 tháng giêng năm 1964, khi kế hoạch đã được Bộ Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ đồng ý cho thi hành đợt 1, Đại Sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Logde mới thông báo với Quốc Trưởng Việt Nam Dương Văn Minh về kế hoạch OPLAN 34A cùng cho biết chính phủ Hoa Kỳ đã chấp thuận kế hoạch này và yêu cầu VIệt Nam hợp tác bằng cách cho quân đội tham gia. Ngày 24 tháng giêng, Toán Hành Quân Đặc Biệt (Special Operations Group - SOG) được chính thức thành lập do Đại Tá Clyde Russell chỉ huy, dưới quyền điều động của Phái Bộ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV). Do đó, cơ quan đảm trách những cuộc hành quân đặc biệt này thường được gọi tắt là MACV-SOG hay MACSOG. Sau này, vào năm 1964, tên Special Operation Group được đổi là Studies and Observation Group (Toán Nghiên Cứu và Quan Sát) cho có vẻ "dân sự" hơn, nhưng tên viết tắt vẫn là MACSOG.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhìn chung, kế hoạch OPLAN 34A do MACSOG chịu trách nhiệm và gồm có 4 thành phần chính: thả toán bằng phi cơ, tiếp tế bằng phi cơ, hoạt động đường biển và chiến tranh tâm lý. Trong số này, toán "hàng không" có đông nhân viên nhất vì được thừa hưởng 169 nhân viên Việt Nam đa số là dân sự đang được huấn luyện tại Long Thành do CIA để lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 28 tháng giêng năm 1964, cuộc chỉnh lý củaTướng Nguyễn Khánh khiến kế hoạch của MACSOG bị chậm lại vì Hoa Kỳ cần phải được sự chấp thuận và hợp tác của chính phủ mới. Tướng Khánh là một người chủ trương "Bắc Tiến" nên tới ngày 12 tháng 2, Sở Kỹ Thuật (Strategic Technical Service - STS) thuộc Bộ Quốc Phòng VNCH được thành lập do Đại Tá Trần Văn Hổ chỉ huy để hoạt động song hành với MACSOG. Sở Kỹ Thuật là hậu thân của Sở Khai Thác Địa Hình (Topographic Exploitation Service) trước đây của Đại Tá Lê Quang Tung dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Về sau, Sở Kỹ Thuật được đổi tên thành Nha Kỹ Thuật (Strategic Technical Directorate - STD).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;VII. Sở Phòng Vệ Duyên Hải &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Về phương diện chỉ huy, chính phủ Hoa Kỳ (Hoa Thịnh Đốn) hoàn toàn đảm nhiệm phần kiểm soát và thiết kế hành quân, MACSOC và Nha Kỹ Thuật tại Việt Nam đảm nhiệm việc thi hành. Cả MAGSOC lẫn Nha Kỹ Thuật đều hầu như không có tiếng nói hay ảnh hưởng nào về mặt đề nghị, cho phép và sắp đặt thời khóa biểu cho các cuộc hành quân.&lt;br /&gt;Về phương diện tổ chức, phía Hoa Kỳ, dưới MACSOG có Phái Bộ Cố Vấn Hải Quân (Naval Advisory Detachment - NAD) hay còn được gọi là Toán Hành Quân Đường Biển (Maritime Operation Group - MAROP) chuyên lo về các cuộc hành quân biệt hải có nhiệm vụ thả biệt kích, bắn phá các tầu bè, cơ sở quân sự cũng như mở các cuộc hành quân thăm dò dọc duyên hải Miền Bắc. Về phía Việt Nam, trực thuộc Nha Kỹ Thuật có Sở Phòng Vệ Duyên Hải (Coastal Security Service - CSS) làm việc hàng ngang với NAD. Hai cơ quan này thường được gọi chung là NAD/CSS đều đặt trụ sở tại tòa nhà Bạch Tượng (White Elephant) Đà Nẵng đễ dễ bề phối hợp các hoạt động. Các giới chức chỉ huy của SPVZH phối hợp khá chặt chẽ với NAD trong việc điều động nhân viên công tác, thuyết trình trước và sau mỗi cuộc hành quân v.v... Ngoài cơ quan NAD, SPVZH cũng làm việc rất chặt chẽ với toán huấn luyện và yểm trợ MST.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước đây, khi toán xâm nhập đường biển còn hoạt động dưới quyền điều động trực tiếp của CIA, tuy có một số nhỏ người nhái HQVN, nhưng nhân viên của những ghe Nautilus đều là dân sự. Khi kế hoạch Switchback chuyển giao quyền kiểm soát các cuộc hành quân đặc biệt từ CIA sang quân đội Hoa Kỳ, ghe Nautilus dần dần được thay thế bằng những chiến đĩnh tối tân hơn, LLHT cũng được thành lập gồm những sĩ quan và đoàn viên thuộc Hải Quân VNCH đặc biệt tuyển chọn để làm thủy thủ đoàn. LLHT đặt dưới quyền điều động của Sở Phòng Vệ Duyên Hải (SPVZH) trực thuộc Nha Kỹ Thuật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đa số nhân viên SPVZH là quân nhân, trong số này phần lớn là Hải Quân, đôi khi có một số rất nhỏ thuộc Bộ Binh. SPVZH làm việc ngang hàng với cơ quan NAD của Hoa Kỳ trong việc chỉ định các toán công tác, huấn luyện và bảo trì chiến đĩnh. Về mặt hành chánh, các quân nhân Hải Quân thuộc SPVZH được coi như biệt phái từ Hải Quân. Chỉ Huy Trưởng SPVZH là một sĩ quan cao cấp Hải Quân. Các vị Chỉ Huy Trưởng SPVZH đều là những sĩ quan thâm niên, nhiều kinh nghiệm; sau này có tới bốn cựu Chỉ Huy Trưởng được thăng đến cấp Phó Đề Đốc.&lt;br /&gt;Ngoài một số cơ cấu hành chánh, SPVZH có hai đơn vị trực thuộc chính, đó là Lực Lượng Hải Tuần (LLHT) và Lực Lượng Biệt Hải, đôi khi còn gọi tắt là Biệt Hải.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Lực Lượng Hải Tuần &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;LLHT là cơ cấu đông nhân viên nhất, có thể coi là thành phần nồng cốt của SPVZH, nên đôi khi có một số người, kể cả những người trong Hải Quân chỉ biết đến LLHT, ít khi nghe nói tới SPVZH. Thực sự, LLHT chỉ là một đơn vị trực thuộc SPVZH cũng như Biệt Hải. Để hiểu rõ thêm, cần thấu triệt về nhiệm vụ, doanh trại, nhân viên, trang bị và những hoạt động của LLHT.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;A . Nhiệm Vụ &lt;/strong&gt;Nhiệm vụ chính của LLHT là thi hành những công tác hành quân đặc biệt bằng đường biển trong vùng lãnh hải Bắc Việt từ vĩ tuyến 17 Bắc trở lên. Về phương diện này, có thể coi LLHT tương tự như Phi Đoàn 219 của KQVN chuyên thả các toán xâm nhập bằng trực thăng. Nhưng ngoài nhiệm vụ thả và vớt các toán Biệt Hải tại vùng duyên hải Bắc Việt, các chiến đĩnh thuộc LLHT còn thực hiện nhiều công tác riêng biệt khác như pháo kích, chận bắt tầu bè, chiến tranh tâm lý v.v... sẽ đề cập tới ở phần sau.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;B. Doanh Trại &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Doanh trại LLHT nằm ngay dưới chân núi Khỉ (Monkey Mountain) thuộc bán đảo Sơn Chà, Đà Nẵng, cạnh khu quân cảng Deep Water Pier, nơi các tầu chở hàng lớn của Hoa Kỳ như SEALAND cập để bốc rỡ hàng hoặc các tầu đổ bộ thuộc Hải Quân Hoa Kỳ ủi bãi. Doanh trại này cách Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải không xa. Từ Đà Nẵng đi vào, phải đi qua trạm kiểm soát tại Cầu Trắng, thấy bãi ủi Deep Water Pier ở bên trái rồi tới trại LLHT ở bên phải. Xa hơn nữa là các cơ sở thuộc BTL/HQ/V1DH.&lt;br /&gt;Trại gồm hai dãy nhà một tầng, mái lợp fibro-xi măng nằm song song, dãy nhà trên cao gần chân núi dành cho sĩ quan và dãy nhà phía dưới gần đường lộ dành cho thủy thủ đoàn. Khu nhà sĩ quan được chia ra thành nhiều phòng nhỏ, mỗi phòng dành cho 2 sĩ quan. Cứ hai phòng có chung một nhà tắm. Khu đoàn viên gồm những nhà dài, không chia thành phòng. Thủy thủ đoàn của mỗi chiến đĩnh chiếm một nhà làm phòng ngủ.&lt;br /&gt;Trong doanh trại, ngoài các phòng ngủ, còn có các cơ sở khác như câu lạc bộ, nhà kho v.v...&lt;br /&gt;Cầu tầu PTF và các công xưởng sửa chữa cũng như bảo trì của MST nằm gần Deep Water Pier, đối diện với khu doanh trại qua con đường nhỏ.&lt;br /&gt;C. Trang Bị&lt;br /&gt;Kể từ khi Toán Xâm Nhập Đường Biển mới thành hình vào năm 1956 cho tới lúc SPVZH chính thức thành lập vào đầu năm 1964, các phương tiện chuyên chở thay đổi tùy theo thời gian và nhu cầu công tác. Mới đầu, toán xâm nhập dùng ghe loại đánh cá, sau đó đến các loại tầu bè tối tân hơn như duyên tốc đĩnh PCF và cuối cùng là loại khinh tốc đĩnh PTF.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;- Ghe Nautilus &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Như chúng ta đã biết, thoạt đầu khi Lực Lượng Xâm Nhập Đường Biển được thành lập và do CIA chỉ huy, phương tiện hoạt động duy nhất là các ghe Nautilus. Đây là các ghe gỗ khá lớn dài chừng 30 thước, có mui, trông giống những ghe đánh đánh cá xa bờ ở vịnh Bắc Việt. Ghe chạy bằng buồm nhưng có gắn máy có vận tốc dưới 10 gút (hải lý/giờ). Võ khí trang bị gồm có đại liên giấu trong khoang ghe và vũ khí cá nhân của thủy thủ đoàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cho tới giữa năm 1963, tại Đà Nẵng có 7 ghe đặt tên Nautilus 1 tới 7 chuyên dùng để xâm nhập hải phận miền Bắc. Lúc đó thành phần này đặt dưới quyền chỉ huy của Đại Úy Ngô Thế Linh, trực thuộc LLĐB của Đại Tá Lê Quang Tung. Thủy thủ đoàn của những chiếc ghe Nautilus phần đông là dân sự gốc Nghệ An, Hà Tĩnh di cư hay sắc tộc Nùng sinh trưởng tại miền Bắc. Một số sĩ quan Hoa Kỳ và Việt Nam huấn luyện thủy thủ đoàn và các toán đổ bộ. Thủy thủ đoàn của mỗi ghe được thay đổi và bổ xung tùy theo nhu cầu công tác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào các năm 1962-63, những ghe Nautilus xâm nhập miền Bắc nhiều lần để tiếp tế, đổ biệt kích và phá hoại thành công vì có thể dễ dàng trà trộn với ghe ngư phủ địa phương, dù vận tốc ghe này rất chậm, phải mất khoảng 24 giờ mới từ căn cứ xuất phát Đà Nẵng tới được mục tiêu Quảng Khê nằm dưới vĩ tuyến 18 Bắc. Sau này, vì bị phản bội cũng như địch biết được đường giây xâm nhập nên ghe Nautilus không còn hữu dụng. Đặc biệt trong chuyến công tác đánh phá căn cứ hải quân Quảng Khê của VC tại cửa sông Gianh vào ngày 28 tháng 6 năm 1962, vì hỏa lực yếu và vận tốc chậm nên ghe Nautilus II bị tầu VC đuổi kịp và đánh chìm. Từ đó CIA thay thế các ghe Nautilus bằng các duyên tốc đĩnh (PCF - Patrol Craft Fast) còn gọi là "Swift" nhanh hơn và hỏa lực mạnh hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;- Duyên Tốc Đĩnh PCF (Swift)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Vì các ghe Nautilus đã bị lỗi thời không còn thích hợp để xử dụng trong các công tác xâm nhập miền Bắc nên vào giữa năm 1963, ba duyên tốc đĩnh đĩnh mới loại PCF (Patrol Craft Fast) còn được gọi là Swift được dùng để thay thế. Đây là loại duyên tốc đĩnh tương đối nhỏ, tầm hoạt động chỉ lên đến Đồng Hới. Sau này, trong chương trình Việt Hóa chiến tranh, HQVNCH được trang bị rất nhiều loại duyên tốc đĩnh này để thành lập những Hải Đội Duyên Phòng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Swift là loại tuần duyên đĩnh mũi ngắn, sườn nhôm, dài chừng 50 bộ do hãng đóng tầu Seward Seacraft ở Burwick, Louisiana chế tạo. Tầu trọng tải 19 tấn, tầm nước 3.5 bộ, gắn 2 máy diesel và có vận tốc tối đa chừng 28 gút. Vũ khí trang bị gồm có một đại liên 50 (12 ly7) gắn trên nóc phòng lái; sân sau có một súng cối 81 ly trực xạ trên gắn đại liên 50. Thủy thủ đoàn gồm có 5 người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;So với loại ghe Nautilus, duyên tốc đĩnh Swift tuy nhanh và trang bị hỏa lực khá mạnh nhưng tầm hoạt động tương đối ngắn, chỉ lên đến Đồng Hới. Tuy vậy, Swift vẫn không phải là đối thủ của các tầu tuần duyên loại P-4 có vận tốc nhanh hơn và Swatow trang bị đại bác 37 ly của Bắc Việt. Do đó, vì nhu cầu công tác đòi hỏi, vào khoảng đầu năm 1964, SPVZH được trang bị các chiến đĩnh loại Khinh Tốc Đĩnh (PTF - Patrol Torpedo Fast) lớn hơn, tầm hoạt động xa hơn, có vận tốc cao và hỏa lực mạnh hơn. Việc xử dụng PTF và người nhái tại Việt Nam đã được Khối Hành Quân Đặc Biệt của Hoa Kỳ chính thức đề nghị trong văn kiện đề ngày 27 tháng 9 năm 1962.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;- Khinh Tốc Đĩnh PTF &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Tổng cộng có ba loại PTF được dùng ở Việt Nam: PTF cũ thời đệ nhị thế chiến, PTF loại "Nasty" do Na Uy chế tạo và PTF loại "Osprey" do Hoa Kỳ đóng. Điểm đặc biệt là tất cả các ống phóng ngư lôi đều được tháo gỡ vì đối thủ Bắc Việt chỉ có các loại tầu nhỏ, không phải là mục tiêu của loại vũ khí này. Súng ống trang bị trên các PTF cũng được biến cải để phù hợp với nhiệm vụ trao phó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các PTF được đặt dưới quyền điều động của MST, vào tháng 3/64 do Đại Úy Burton Knight chỉ huy. MST trực thuộc MACSOG tại Sài Gòn. Về hệ thống chỉ huy, trên MACSOG là SACSA (Special Assistant for Counterinsurgency and Special Activities) thuộc Ngũ Giác Đài và Hội Đồng 303 (Committee 303) thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (National Security Council - NSA). Tuy nhiên, những nhân viên Hoa Kỳ ở Đà Nẵng thuộc Toán Yểm Trợ Hành Quân Hải Quân (Naval Operation Support Group) đặt căn cứ tại Coronado, California do Đại Tá Phil H. Bucklew chỉ huy. Toán này chịu trách nhiệm về các hoạt động đặc biệt của Hải Quân Hoa Kỳ trong vùng Thái Bình Dương cũng như quản trị nhân viên do Toán cung cấp cho SOG để xử dụng trong các hoạt động tại Việt Nam..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;+ PTF Loại Cũ &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Hai PTF đầu tiên được dự trù trang bị cho LLHT là loại cũ từ thời đệ nhị thế chiến (giống PT 109 của TT Kennedy), dùng máy Packard chạy bằng xăng máy bay nên còn được gọi là "tầu xăng". Ngay từ lúc đầu, các giới chức quen thuộc với công tác Biệt Hải tại Đà Nẵng cũng như Sài Gòn đã không tán thành việc xử dụng loại PTF cũ này, nhưng Hoa Thịnh Đốn ra lệnh cứ dùng thử. Do đó, vào khoảng tháng giêng năm 1963, Hải Quân Hoa Kỳ tân trang 2 chiến đĩnh là các PT-810 và PT-811 đang tồn trữ tại Hải Quân Công Xưởng Philadelphia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây là kiểu Ngư Lôi Đĩnh dùng trong đệ nhị thế chiến nhưng được đóng vào năm 1950. Vũ khí trang bị nguyên thủy gồm ống phóng ngư lôi, 2 đại bác 40 ly một ở trước mũi và một ở sân sau, 2 đại bác 20 ly, 2 đại liên 50 bên hông. Khi sang Việt Nam, khẩu đại bác 40 ly trước mũi được cắt bỏ và thay bằng khẩu súng cối 81 ly trực xạ gắn thêm đại liên 50. Hai PT này được đổi tên là PTF-1 và PTF-2. Sau khi chạy thử, cả 2 chiếc PTF gặp khá nhiều trở ngại kỹ thuật nên được giữ lại tại công xưởng Philadelphia để sửa chữa. Vào khoảng thời gian này, Hải Quân Hoa Kỳ cũng vừa nhận được 2 chiếc PTF mới loại "Nasty" đặt mua từ Na Uy, đặt tên là PTF-3 và PTF-4.&lt;br /&gt;Ngày 19 tháng giêng năm 1964, các PTF-1và PTF-2 được chiến hạm Pioneer Myth chở từ Norfolk đến Subic Bay vào đầu tháng 2 và đến Việt Nam khoảng tháng 3 năm 1964. Lúc này, các PTF-3 và PTF-4 loại "Nasty" cũng đã tới Việt Nam từ trước, vào khoảng cuối tháng 2/64. Các PTF-1 và PTF-2 được chạy thử tại Đà Nẵng và nhận thấy rằng không được an toàn và hữu hiệu vì nhiều lý do. Thứ nhất, tầu chạy bằng xăng nên có thể phát nổ dễ dàng nếu bị trúng đạn trong lúc công tác. Thứ hai máy nổ rất ồn ào, gây nhiều tiếng động nên không thích hợp cho việc thả và vớt toán vì dễ bị lộ. Thứ ba, máy rất khó tái khởi động sau khi tắt vì hơi bị kẹt trong lòng máy. Điều này rất nguy hiểm vì sau khi thả toán, chiến đĩnh có thể phải tắt máy để tránh gây tiếng động, nhưng vẫn có thể cần khởi động ngay trong trường hợp khẩn cấp. Thứ tư, máy rất khó vào số lùi. Tuy có khuyết điểm nhưng tầu xăng có hỏa lực mạnh và vận tốc tương đối cao nên rất hữu hiệu trong các công tác pháo kích hay yểm trợ hải pháo.&lt;br /&gt;Ngoài các vấn đề an toàn nêu trên, vì các PTF này thuộc loại cũ không dùng đã lâu nên khó kiếm cơ phận. Hơn nữa, việc dùng chiến đĩnh chế tạo tại Hoa Kỳ cũng là một trở ngại vì theo qui luật, các phương tiện và võ khí xử dụng trong các cuộc hành quân biệt kích đều không được mang xuất xứ từ Hoa Kỳ để tránh các rắc rối về ngoại giao.&lt;br /&gt;Các PTF loại cũ này tham dự một số công tác đáng kể, nhưng sau này, trong những hoạt động vào ngày 30 tháng 7 và 3 tháng 8 năm 1964, cả 2 PTF-1 và PTF-2 đều bị trở ngại về máy móc nên sau đó được thay thế bằng các PTF tối tân hơn do Na Uy chế tạo.&lt;br /&gt;Tổng cộng chỉ có 2 PTF loại cũ được xử dụng trong LLHT. Một trong hai hạm trưởng của loại "tầu xăng" này kể lại như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Máy chạy để ở vị thế ngừng (idle) không được đều, tiếng máy "gầm gừ" nghe rất lạ. Sự khởi động của máy rất khó khăn. Khi khởi động máy thường phát ra tiếng nổ rất lớn và thổi ra một cục lửa lớn bằng trái banh xa chừng một thước rưỡi. Chân vịt của tầu rất lớn nên quạt nước thật mạnh, mỗi khi tầu cập cầu hay rời bến đều làm cho vịnh nổi sóng. Tầu chỉ chạy tốt với tốc độ cao, chạy chậm dễ bị chết máy. Do đó cơ khí viên rất mệt, phải luôn luôn trông chừng cho máy khỏi bị tắt. Khi máy bị tắt thì khởi động rất khó, đôi khi hết cả bình gió ép! Vận tốc của tầu rất cao, khi đi (lúc tầu nặng vì còn nhiều dầu) có thể tới 35-40 gút, khi về thì 40-45 gút. Chẳng chiếc tầu nào giám cập cạnh hoặc đối diện với tụi tôi. Chúng tôi cũng không bao giờ cập cạnh nhau. Hạm trưởng các tầu khác thường gọi chúng tôi là 2 thằng thủy quái.&lt;br /&gt;Tầu được trang bị 1 đại bác 40 ly, 2 đại bác 20 ly, 2 đại liên 50 và một súng cối 81 ly gắn thêm đại liên 50. Công tác của tụi tôi là chỉ có bắn phá chứ không thả hay vớt người, thành ra rất nhàn hạ và luôn luôn thành công. Công tác của những tầu khác là thả người và vớt người nên đôi khi sai hẹn hay trở ngại vớt không được, nhiều khi đi không lại về không, có khi phải chờ dài cả cổ mới gặp được".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;+ PTF Na Uy (Nasty)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Vì các khuyết điểm khó khắc phục nói trên của loại tầu xăng nên khoảng cuối năm 1965, LLHT được trang bị những khinh tốc đĩnh loại "Nasty" tối tân nhất thế giới vào thời bấy giờ do Hải Quân Na Uy và Tây Đức cùng nghiên cứu và chế tạo.&lt;br /&gt;Khinh tốc đĩnh Nasty do kiến trúc sư Jan H. Lingen của Na Uy vẽ kiểu sau khi tham khảo ý kiến với các sĩ quan thuộc hải quân Hoàng Gia Na Uy và tổng hợp những ưu điểm của các loại ngư lôi đĩnh PT của Hoa Kỳ và Fairmile "D" của Anh. Loại tầu tuần tiễu duyên hải này có thể mang theo thủy thủ đoàn 19 người. Chiếc Nasty đầu tiên được chế tạo cho hải quân Na Uy mang tên KNM TJELT (P-343). Tổng cộng, Na Uy chỉ đóng 42 chiếc Nasty, gồm 20 cho Na Uy, 6 cho Hy Lạp, 2 cho Thổ Nhĩ Kỳ và 14 cho Hoa Kỳ dùng tại Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai chiếc Nasty đầu tiên được giao cho Hải Quân Hoa Kỳ vào đầu năm 1963 tại Little Creek, Virginia, sau khi chạy thử, được đặt tên là PTF-3 và PTF-4 vào ngày 3 tháng 5 năm 1963, rồi được đưa đi huấn luyện tại San Diego. Ngày 17 tháng 9, hai chiến đĩnh được chiến hạm Point Defiance (Landing Ship Dock - LSĐ 31) chở đến Pearl Harbor, Hawaii rồi tới Subic Bay một tháng sau đó. Tại Subic, các PTF-3 và PTF-4 được biến cải để gắn thêm thùng đựng nhiên liệu để nâng cao tầm hoạt động, bằng cách gỡ bỏ pháo tháp 40 trước mũi, thay vào đó bằng ụ súng 81 ly trực xạ gắn thêm đại liên 50. Ngày 22 tháng 2 năm 1964, cả hai PTF được đưa lên chiến hạm Carter Hall để chở qua Việt Nam. Nhưng trong lúc đưa lên chiến hạm chuyên chở, PTF-3 bị sóng đập vào thành tầu lớn khiến vỏ bị bể, vì vậy được để lại Subic Bay để sửa chữa. Mãi đến cuối tháng 2/64, PTF-3 mới đến Đà Nẵng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời gian đó, vào ngày 1 tháng 2 năm 1964, Na Uy lại giao thêm 4 chiếc Nasty mới là các PTF 5, 6, 7 và 8 tại hải cảng Bergen, Na Uy. Các tầu này được đưa lên chiến hạm Point Barrow (AKD-1) chở tới Subic Bay vào ngày 3 tháng 3. Sau khi được biến cải và tân trang, các Nasty này được đưa đến Việt Nam vài tháng sau đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khinh tốc đĩnh Nasty có vỏ bằng ván ép nhiều lớp đặc biệt, trọng tải 75 tấn, dài khoảng 80 bộ, rộng 24.7 bộ, tầm nước 3.7 bộ phía trước, 6.10 bộ chỗ chân vịt sau lái, có thể mang 18 tấn hay 6,100 gallons dầu cặn, tầm hoạt động lên đến 1,000 hải lý với tốc độ tiết kiệm. Máy tầu loại Napier &amp;amp; Deltic của Anh, 18 xy lanh, vận tốc đường trường khoảng 35 gút, vận tốc tác chiến tối đa có thể lên đến 50 gút khi tầu không mang nhiều nhiên liệu..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về vũ khí, Nasty được trang bị 1 súng cối 81 ly trực xạ gắn thêm đại liên 50 trước mũi. Sân sau lái đặt khẩu đại bác 40 ly, hai bên hông ngang đài chỉ huy gắn đại bác 20 ly. Dụng cụ hải hành gồm la bàn điện, máy dò chiều sâu và radar loại Decca có tầm hữu dụng 50 hải lý với màn ảnh chính đặt trong trung tâm chiến báo và "repeater" trên đài chỉ huy. Radar này thường được dùng để hải hành hay hải thám, nhưng khi cần, ăng ten có thể ngóc lên 15 độ để phòng không. Tuy radar thuộc loại tối tân thời bấy giờ, nhưng các mạch điện còn dùng đèn điện tử nên khi biển động, tàu nhảy sóng và bị đập mạnh xuống mắt nước, các đèn dễ bị lỏng hoặc cháy. Máy truyền tin gồm các loại âm thoại cũng như tín hiệu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đặc điểm của loại Nasty là vận chuyển nhẹ nhàng, cần điều khiển máy nằm ngay trên đài chỉ huy nên hạm trưởng có thể tự mình tăng hay giảm máy dễ dàng không phải "truyền lệnh" trong lúc tác chiến hay trường hợp khẩn cấp. Đài chỉ huy lộ thiên, không có chỗ ngồi và tương đối thấp để đỡ cản gió. Khi hải hành với vận tốc cao, khoảng phân nửa thân tầu về phía trước mũi hỏng lên khỏi mặt nước, nếu gặp sóng ngược, phần lớn thân tầu bị dở lên khỏi mặt nước rồi đập xuống như phi ngựa, những đứng người trên đài chỉ huy đều phải "thủ thế" để giảm bớt sức dội và đỡ bị sóng biển tạt ướt. Tuy vậy, vỏ ván ép của Nasty có sức chịu đựng rất bền bỉ, không bị bể hay nứt. Với các đặc tính này, khinh tốc đĩnh Nasty rất được các hạm trưởng ưa chuộng và trở thành xương sống của LLHT.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;+ PTF Osprey &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Khoảng giữa năm 1968, để thay thế cho một số chiến đĩnh Nasty vào công xưởng sửa chữa đại kỳ hay bị hư hại trong lúc tác chiến, LLHT nhận thêm một số chiến đĩnh mới cũng thuộc loại PTF nhưng có tên là "Osprey" do Hoa Kỳ chế tạo. Loại khinh tốc đĩnh này do hãng đóng tàu John Trumpy and Sons of Annapolis, Maryland sản xuất, tổng cộng chỉ có 6 chiếc.&lt;br /&gt;Các chiến đĩnh Osprey được đóng mô phỏng theo loại Nasty của Na Uy, nhưng vỏ bằng nhôm thay vì bằng gỗ. Đặc biệt, loại Osprey được trang bị máy điều hòa không khí nên rất tiện nghi khi đi công tác. Nghe nói sườn và phần sau lái tầu được nhập cảng "tiền chế" từ Na Uy. Khinh tốc đĩnh Osprey tuy vỏ bằng nhôm nhưng vẫn hơi nặng hơn loại Nasty nên vận tốc kém hơn khoảng 5 gút và mức độ nhảy sóng cũng kém hơn. Vũ khí trang bị tương tự như Nasty. Tuy nhiên, vỏ nhôm của Osprey không chịu được vận tốc cao khi hoạt động trong thời tiết xấu, tầu bị sóng nâng cao và đập mạnh xuống mặt biển nên vỏ tàu bị nứt chỉ sau 6 tháng hoạt động. Vì lý do này, có 4 chiến đĩnh được đưa qua Việt Nam để thử nghiệm, nhưng sau đó lại đưa về Hoa Kỳ và trở thành các PTF 23, 24, 25 và 26 trong Hải Quân.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;D. Nhân Viên &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trước khi đi sâu vào phần quan trọng và đặc biệt nhất của LLHT là lãnh vực nhân sự, cần nhắc qua về nhân viên của toán xâm nhập đường biển trước đây, có thể coi là tiền thân của LLHT và SPVZH.&lt;br /&gt;Đối với công luận Hoa Kỳ và thế giới tức là về mặt nổi, những cuộc hành quân biệt kích nhắm vào miền Bắc đều do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tự đứng ra tổ chức, do đó nhân viên tham dự đều là người Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, có một số người Đài Loan và đệ tam quốc gia do CIA tuyển mộ trong giai đoạn đầu. Cũng giống như CIA đã thuê mướn nhân viên người Đài Loan lái những máy bay C-47 thả dù Biệt Kích ngoài Bắc, CIA cũng mướn những người thuộc "quốc gia thứ ba" dự trù xử dụng trong những cuộc hành quân Biệt Hải xuất phát từ Đà Nẵng.&lt;br /&gt;Thoạt kỳ thủy khi còn xử dụng ghe Nautilus, thủy thủ đoàn đều là nhân viên dân chính Việt Nam, đa số gốc người Nghệ An, Hà Tĩnh hay gốc Nùng di cư vào miền Nam. Các ghe Nautilus được ngụy trang trông rất giống các ghe đánh cá ngoài Bắc để dễ trà trộn, bởi vậy thủy thủ đoàn cũng phải là người Việt giống như ngư phủ địa phương. Toán đổ bộ phần lớn cũng là người Việt. Tuy nhiên trong một vài công tác đổ bộ đầu tiên tại vùng Móng Cái gần biên giới Việt - Hoa, có một số người nhái Trung Hoa Quốc Gia tham dự, nhưng có lẽ họ chỉ nhân cơ hội để hoạt động trên lãnh thổ Trung Cộng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về sau, vì nhu cầu công tác, CIA thay thế các ghe Nautilus bằng ba duyên tốc đĩnh PCF là loại tầu mới và tối tân nên các nhân viên dân sự Việt Nam không đủ khả năng điều khiển. Vì vậy CIA đã mướn một số người thuộc đệ tam quốc gia để làm thuyền trưởng. Theo các tài liệu Hoa Kỳ và trong cuộc phỏng vấn gần đây của phóng viên Thụy Điển Sven Oste, thuyền trưởng những chiếc Swift này đều là người quốc tịch Na Uy (ông Oste đã phỏng vấn 2 trong số những người Na Uy từng làm thuyền trưởng Swift tại Việt Nam). Ngoài thuyền trưởng người Na Uy, mỗi chiếc Swift thường có thêm 3 nhân viên dân chính Việt Nam: một tài công, một xạ thủ và một thông dịch viên. Ba thuyền trưởng người Na Uy này thường được gọi đùa là "dân Viking". Họ được tuyển mộ từ Na Uy vào tháng 7/63 và đi chuyến công tác cuối cùng vào ngày 27/5/64, sau đó họ rời Việt Nam vào tháng 6/64 khi mãn giao kèo. Nhận xét chung về người Na Uy, họ là những thuyền trưởng tương đối có khả năng và chu toàn nhiệm vụ được trao phó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng 6/64, sau khi những người Na Uy mãn giao kèo, một số người quốc tịch Trung Hoa đuợc tuyển mộ để thay thế, nhưng khi việc huấn luyện hoàn tất thì chiến đĩnh Swift không còn được dùng trong những công tác vượt vĩ tuyến 17 Bắc nữa.&lt;br /&gt;Về toán đổ bộ, thoạt tiên có một số người thuộc quốc tịch thứ ba như Trung Hoa Quốc Gia trong vài chuyến đầu gần biên giới Hoa - Việt, nhưng sau đó, nhân viên đều là Biệt Hải, đa số thuộc Liên Đoàn Người Nhái HQVNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với các chiến đĩnh PTF, lúc đầu CIA mướn những người Đức để huấn luyện và dự tính dùng vào những chức vụ then chốt, còn người Nùng và Việt Nam chỉ là phụ tá. Nhưng sau đó, những người Đức bị sa thải vì thường uống rượu say sưa. Nhóm người Đức dựa vào giao kèo để phản đối, nhưng sau này CIA trả cho họ một số tiền cho êm chuyện. Nhóm người Đức này không đi một chuyến công tác nào trên PTF. Những chuyến công tác đầu tiên của PTF vào tháng 7 và 8/64 đều do các sĩ quan HQVNCH chỉ huy. Toán đổ bộ dùng PTF đại đa số là người Việt Nam với một số ít người thuộc sắc tộc thiểu số Nùng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kể từ khi SPVZH và LLHT được chính thức thành lập, thủy thủ đoàn của các PTF và Swift đều là những quân nhân Hải Quân VNCH tình nguyện. Vì số người tình nguyện bao giờ cũng cao hơn số được thâu nhận nên việc tuyển lựa rất kỹ càng, căn cứ vào kinh nghiệm hải hành, tinh thần phục vụ, sức khỏe và khả năng tác chiến. Việc điều tra an ninh cũng rất gay go với mức độ "mật" hay "tối mật". Khi được tuyển chọn mỗi người phải ký một giao kèo có hiệu lực trong vòng một năm. Sau đó, cứ mỗi 6 tháng khi giao kèo hết hạn, nhân viên có quyền ký thêm 6 tháng nữa hoặc thuyên chuyển về Hải Quân. Mỗi lần ký giao kèo, người tình nguyện, dù sĩ quan hay đoàn viên, đều lãnh một số tiền bằng nhau. Ngoài ra, còn có tiền phụ cấp cho mỗi chuyến công tác trên vĩ tuyến 17 và tiền phụ trội ẩm thực. Ngân khoản này đều do chính phủ Hoa Kỳ cung cấp. Tiền lương Hải Quân vẫn được lãnh hàng tháng như thường lệ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về việc tuyển mộ tình nguyện này, một sĩ quan từng phục vụ lâu năm trong LLHT kể lại như sau:&lt;br /&gt;"... Tưởng cuộc đời mình dính liền với Hạm Đội thì một hôm, HQ Trung Tá... xuống gặp anh em chúng tôi, ngỏ ý tuyển mộ một số sĩ quan trẻ có khả năng để phục vụ trên các khinh tốc đĩnh trong các nhiệm vụ đặc biệt. Với máu ưa mạo hiểm sẵn có cũng như niềm ngưỡng mộ đối với hình ảnh hào hùng của cố Tổng Thống Kennedy lúc ông còn là Hạm Trưởng PT 109 trong Đệ Nhị Thế Chiến, chúng tôi chỉ cần có mấy ngày để rời bỏ Hạm Đội để bước vào một thử thách mới. Khóa chúng tôi gồm có 6 người, cộng thêm 6 bạn khóa 11 trở thành nhóm Sĩ Quan trẻ đầu tiên của LLHT".&lt;br /&gt;Một khi đã ký giao kèo gia nhập LLHT, người tình nguyện không còn thuộc hệ thống chỉ huy của Hải Quân nữa, mà trở thành nhân viên của Lực Lượng Đặc Biệt nên không cần mặc quân phục Hải Quân, ngoại trừ sáng thứ hai khi làm lễ thượng kỳ hay khi có thượng cấp thăm viếng. Trong doanh trại, đa số thường bận quân phục Bộ Binh. Khi đi công tác thường chỉ mặc bộ đồ bà ba đen. Ngay cả lý lịch cũng thay đổi, mỗi người lấy một tên giả, còn thư từ thì gửi về một hộp thư chung cho toàn lực lượng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;E. Vũ Khí Xử Dụng &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ngoài những vũ khí trang bị trên chiến đĩnh, toán đổ bộ lúc đầu còn xử dụng các hỏa tiễn thới chỉnh để bắn phá các mục tiêu, nhưng vì hỏa tiễn không được chính xác nên sau này họ xử dụng súng 57 ly không giật để tăng cường hỏa lực. Những ổ súng không giật di động này có thể thiết trí ở bât cứ nơi nào trên chiến đĩnh vì không cần dùng chân súng. Các ổ súng không giật thường được đặt ở sân trước ngay dưới chân khẩn súng cối 81 ly trên chiến đĩnh mỗi khi bắn phá mục tiêu trên bờ. Toán đổ bộ cũng thực tập bắn súng 57 ly bằng cách mang trên vai để có thể xử dụng vũ khí này trên xuồng cao su. Ngoài súng 57 ly, còn có các loại 90 ly hay 106 ly nhưng không được xử dụng thường xuyên. Nhiều loại mìn nổ chậm cũng được Biệt Hải dùng trong công tác phá hoại. Về vũ khí cá nhân, các nhân viên đổ bộ dùng loại súng AK của khối CS hay tiểu liên (K-gun) do Thụy Điển chế tạo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;F. Tin Tức Tình Báo Và Không Ảnh &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trước khi lên đường hành quân, các Hạm Trưởng và trưởng toán đổ bộ thường được thuyết trình về tình hình địch cũng như xem không ảnh mới nhất của vùng mục tiêu. Tin tức tình báo thường là cung từ của các tù binh hay dân đánh cá bị tại địa phương bị bắt về để khai thác. Các không ảnh này đa số do phi cơ "tối mật" U-2 chụp trên cao độ ngoài tầm hỏa tiễn phòng không cũng như phi cơ của BV. Các phi cơ U-2 thường xuất phát từ phi trường Biên Hòa, đôi khi từ căn cứ Clark Air Base bên Phi Luật Tân.&lt;br /&gt;Tại phi trường Biên Hòa thường có hai phi cơ U-2 túc trực. Không ảnh của phi cơ U-2 là nguồn tình báo chính cho các cuộc hành quân OPLAN 34A. Thông thường, vào ngày có công tác, một phi cơ U-2 bay từ sáng sớm để chụp hình mục tiêu. Đến trưa, không ảnh đã có trong tay MACSOG tại Sài Gòn. Đôi khi không ảnh cũng được chụp bằng các phi cơ không người lái (drone) ở cao độ thấp hơn hoặc bằng cách chụp hình trên màn ảnh radar (radarscope photography) trên các phi cơ bay đêm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;G. Tinh Thần Chiến Đấu &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Dĩ nhiên trong mỗi lần vượt vĩ tuyến 17 thi hành công tác, bao giờ cũng có những nguy hiểm chờ sẵn, nhưng thật ra những lo âu, hồi hộp không phải vì địch quân mà do cảm giác thiếu an toàn khi hoạt động trong vùng địch kiểm soát. Trong những chuyến công tác đầu tiên, tuy vẫn hải hành ngoài biển, nhưng một khi vượt qua lằn ranh tưởng tượng là vĩ tuyến 17 sang hải phận địch, ai cũng cảm thấy tinh thần căng thẳng. Ngược lại khi trở về vùng biển nhà, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm.&lt;br /&gt;Lâu dần, đầu óc cũng quen đi, hơn nữa so với các tầu tuần duyên Bắc Việt, các chiến đĩnh LLHT có hỏa lực mạnh hơn, vận tốc lại nhanh hơn nên lúc nào cũng chiếm được thế thượng phong. Vì vậy, những cảm giác lo âu ban đầu không còn nữa nhưng lúc nào cũng cần đề phòng cẩn mật và tập trung tâm trí chỉ vào việc hoàn thành công tác. Đã từng phục vụ tại các giang đoàn ở miền Nam, chúng tôi nhận thấy rằng những chuyến công tác vượt tuyến còn ít nguy hiểm hơn nhiều. Các giang đĩnh hoạt động trong sông lạch chật hẹp là mục tiêu bị động tốt cho địch quân ẩn núp hai bên bờ nhắm bắn bất cứ lúc nào; ngược lại, các chiến đĩnh tối tân của LLHT ngoài biển cả luôn luôn nắm vai trò chủ động.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mỗi chuyến công tác vượt tuyến là một cuộc phiêu lưu mạo hiểm rất hào hứng và cũng là một thử thách. Ngoài ra, các chuyến công tác tương đối ngắn, ít khi kéo dài quá 24 tiếng đồng hồ, không mấy nguy hiểm lại được đãi ngộ xứng đáng nên tinh thần của nhân viên LLHT rất cao. Bằng cớ là có rất nhiều người thuộc thủy thủ đoàn chưa tới phiên, nhưng vẫn tình nguyện đi công tác thay thế cho những người vắng mặt ở thủy thủ đoàn khác cho đủ cấp số. Lắm người tình nguyện này đi công tác nhiều gấp đôi, gấp ba so với các bạn đồng đội thuộc thủy thủ đoàn chính của mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Lực Lượng Biệt Hải &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ngay từ tháng 11 năm 1962, một căn cứ đã được thiết lập tại bãi biển Mỹ Khê do CIA điều khiển để các ngưới nhái Hoa Kỳ (SEAL - Sea Air Land) huấn luyện các toán đổ bộ. Tuy căn cứ này do CIA chịu trách nhiệm cho tới năm 1964, nhưng việc huấn luyện hoàn toàn do SEAL đảm trách.&lt;br /&gt;Bãi biển Mỹ Khê nằm về hướng đông của bán đảo Tiên Sha, từ chân núi Khỉ (hay núi Sơn Chà) chạy dài về hướng Nam tới Ngũ Hành Sơn (Marble Mountain). Bán đảo Tiên Sha thuộc khu phía đông của thành phố Đà Nẵng. Tất cả các căn cứ của toán Biệt Hải đều nằm dọc theo bãi biển Mỹ Khê. Các toán Biệt Hải sống và huấn luyện trong những trại riêng biệt, tương đối nhỏ chỉ đủ cho vài ba chục người. Có trại dành riêng cho toán Biệt Hải gốc Bộ Binh (Romulus?), có trại dành cho Biệt Hải gốc người nhái Hải Quân (Vega), có trại dành riêng cho toán xử dụng chất nổ dưới nước. Ngoài ra, còn có trại riêng cho những người Nùng chuyên việc canh phòng các doanh trại.&lt;br /&gt;Vào khoảng năm 1964, toán người nhái Hải Quân Hoa Kỳ đảm trách việc huấn luyện các toán Biệt Hải, dưới quyền chỉ huy của Đại Úy Cathal L. Flynn. Các toán Biệt Hải được huấn luyện về kỹ thuật chèo xuồng cao su, đổ bộ, bơi ngầm dưới biển, xử dụng chất nổ v.v... Về vũ khí, đầu tiên họ được huấn luyện cách xử dụng hỏa tiễn loại 3.5 inch thời chỉnh (time- delay) do CIA cung cấp. Trên nguyên tắc, một toán có thể đổ bộ gần mục tiêu rồi đặt giàn phóng hỏa tiễn, điều chỉnh thời gian khai hỏa rồi rút về căn cứ trước khi hỏa tiễn khai hỏa. Tuy nhiên, loại hỏa tiễn này không được hiệu quả vì kém chính xác, hệ thống thời chỉnh hay bị sai và nhất là nguy hiểm vì hay phát nổ bất tử. Những hỏa tiễn này đã được dùng vài lần trong các cuộc đổ bộ ngoài Bắc nhưng sau bị loại bỏ vì không có hiệu quả và sau này được thay thế bằng súng 57 ly không giật. Đây là loại súng đại bác hạng nhẹ với hơi nổ được đẩy ra phía sau thay vì theo nòng súng tống ra phía trước nên "không giật" do đó không cần chân hay đế súng để triệt tiêu sức giật.&lt;br /&gt;Vào tháng 3 năm 1964, Hải Quân Đại Úy Trịnh Hòa Hiệp thuộc Liên Đoàn Người Nhái HQVNCH được thuyên chuyển ra làm Chỉ Huy Trưởng toán LĐNN tại Mỹ Khê. Đây là toán hoạt động hữu hiệu và đạt được nhiều thành quả nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;VIII. Một Số Hoạt Động &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trong khoảng thời gian trên dưới 10 năm hoạt động, các ghe Nautilus và chiến đĩnh LLHT cũng như toán Biệt Hải đã thi hành hàng ngàn chuyến công tác đủ loại. Sau đây là những công tác đáng nhớ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Công Tác Của Ghe Nautilus &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Tuy các ghe Nautilus hoạt động bắt đầu hoạt động từ năm 1956, nhưng những chuyến công tác đầu tiên chỉ dể tiếp tế cho những toán nằm vùng ngoài Bắc Việt và rất bất thường, có khi mỗi năm chỉ xảy ra một, vài lần. Sau này, vào khoảng các năm 1962, 1963, những chuyến công tác Nautilus trở nên thường xuyên hơn và có mục đích tích cực hơn. Sau đây là một số hoạt độngtiêu biểu của Toán Công Tác Đường Biển trong thời gian này:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;- Chuyến Công Tác Nautilus I ngày 12/1/62 &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ngày 12 tháng 2 năm 1962, vào khoảng 5 giờ sáng, ghe Nautilus I rời Đà Nẵng lên đường ra miền Bắc để thực hiện công tác liên lạc và tiếp tế cho các công tác viên nằm vùng. Sau hai ngày hải hành trong vịnh Bắc Việt không có gì trở ngại, Nautilus I tới vùng điểm hẹn Hòn Gai. Trước đó ít lâu, điệp viên Ares đã gửi điện văn yêu cầu tiếp tế nhiều nhu yếu phẩm, trong đó có cả máy truyền tin. Ngoại trừ thuyền trưởng, đa số thủy thủ đoàn của Nautilus 1 còn rất trẻ đều không biết rõ mục tiêu của chuyến công tác. Trước đó không lâu, dưới sự điều động của cơ quan xâm nhập đường biển, Nautilus I đã đổ một người tên Quang lên vùng biển Hà Tĩnh gần Đèo Ngang an toàn. Thủy thủ đoàn cũng đã nhiều lần lên bờ sống lẫn lộn với dân đánh cá địa phương để thu thập tin tức.&lt;br /&gt;Khi tới Hòn Gai, Nautilus I neo ở gần một hòn đảo nhỏ và giả dạng đang đánh cá để chờ trời tối. Đến tối, Nautilus theo mật hiệu của Ares vào đến điểm trong bờ hẹn thì bị phục kích. Chiếc ghe và toàn thể thủy thủ đoàn bị rơi vào tay địch. Điệp viên Ares cũng không thấy tăm tích!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Công Tác Nautilus II Ngày 28-6-62&lt;br /&gt;Ngày 28 tháng 6 năm 1962, thủy thủ đoàn Nautilus II rời Đà Nẵng lên đường vượt vĩ tuyến 17 trong một công tác đặc biệt: đó là thả bốn người nhái tại cửa sông Gianh để đặt mìn phá hoại những chiếc tầu Swatow của Việt Cộng tại căn cứ Hải Quân Quảng Khê gần đó. Bốn người này là các anh Lê Văn Kinh, Nguyễn Hữu Thảo, Nguyễn Văn Tâm và Lê Văn Chuyên. Họ thuộc toán người nhái đầu tiên của Hải Quân VNCH gồm 18 người được gửi đi thụ huấn tại Đài Loan vào tháng 8 năm 1960.&lt;br /&gt;Tới địa điểm hoạt động, những người nhái thuộc toán phá hoại xuống nước và chuẩn bị đặt mìn. Nhưng rủi ro không hiểu vì lý do gì, một trái mìn bị nổ trước khi tới mục tiêu, khiến một người nhái bị tử thương tại chỗ. Vì vậy, lực lương duyên phòng VC báo động và đuổi bắt. Chiếc thuyền Nautilus xả hết tốc lực chạy về vĩ tuyến 17 nhưng bị các tầu tuần VC có tốc lực nhanh hơn đuổi kịp và đánh chìm gần vĩ tuyến 17. Nhân viên CIA ở Đà Nẵng nghe được liên lạc âm thoại của các tầu CS nhưng không làm gì được để tiếp cứu Nautilus II.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kết quả có hai người nhái bị bắt là anh trưởng toán Lê Văn Kinh và Nguyễn Văn Tâm. Trongsố thủy thủ đoàn Nautilus II, chỉ có một người thoát nạn nhờ núp dưới lá buồm của chiếc thuyền bị chìm, và được một lực lượng xuất phát từ Đà Nẵng cứu thoát trên biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;- Công Tác Vào Tháng 7 năm 1962 &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trong chuyến công tác này, một điệp viên tên Nguyễn Châu Thanh đổ bộ thành công tại vùng Hà Tĩnh. Theo kế hoạch, thủy thủ đoàn Nautilus III đảm nhiệm công tác này, nhưng đến phút chót, công tác được giao cho một chiếc thuyền khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;- Công Tác Nautilus VII&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng 7 năm 1963, toán Dragon gồm có 6 người Nùng do Mộc A Tài chỉ huy đổ bộ lên vùng Móng Cái, sát biên giới Việt Hoa với nhiệm vụ phá hủy đài radar duyên hải tại địa phương. Ngoài ra, toán Dragon cũng được lệnh hoạt động vô hạn định trong khu vực quen thuộc nhiều người Nùng này và liên lạc với những người Nùng khác là lính cũ của Đại Tá Woong A Sáng sư đoàn 22 BB để lại nằm vùng tại miền Bắc trong cuộc di cư vào Nam năm 1954. Sở Địa Hình đã liên lạc với Đại Tá Sáng để biết về tung tích của những ngưới lính cũ nằm cùng này. Nếu gặp được nắm được, toán Dragon sẽ dùng họ để chỉ điểm và cộng tác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiếc ghe Nautilus 7 có nhiệm vụ chở Team Dragon tới điểm đổ bộ. Thủy Thủ Đoàn Nautilus cũng được dặn dò phải cẩn thận đi theo một hải trình đã vạch sẵn để tránh các đài radar ở đảo Hải Nam có thể phát hiện họ khi xâm nhập hải phận miền Bắc.&lt;br /&gt;Chẳng may, khi Nautilus 7 tới điểm đổ bộ thì bị phát hiện, lúc đó toán đổ bộ đã lên bờ. Nautilus 7 sau này về được đến Đà Nẵng, nhưng một số thủy thủ và toán đổ bộ bị bắt. Một trong số người bị bắt cho biết như sau:&lt;br /&gt;"Những chuyến xâm nhập bằng đường biển đều rất thành công. Bằng cớ là tôi đã hoàn tất 11 chuyến công tác trước khi bị bắt. Công tác của chúng tôi chia làm 3 loại: thám sát để thu thập tin tức tình báo, đổ bộ biệt kích và phá hoại. Chúng tôi có cả thảy 7 chiếc ghe, thủy thủ đoàn luôn luôn được thay đổi. Thí dụ như tôi lúc đầu thuộc toán Nautilus 2, sau đó qua Nautilus 4 và cuối cùng tới Nautilus 7 khi bị bắt. Nautilus 4 đã xâm nhập Hải Phòng 2 lần nhưng đều trở về an toàn. Chúng tôi đã nhiều lần hoàn tất công tác tại các vùng thật xa như Móng Cái gần biên giới Hoa-Việt và vùng Đèo Ngang thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Theo tôi biết, Nautilus II là chiếc ghe độc nhất bị mất trong chuyến công tác chở người nhái đặt mìn tại Quảng Khê vào tháng 6/62".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Công Tác Của PTF&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Không có tài liệu nào cho biết về hoạt động của các tầu Swift và PTF trước năm 64 khi còn do CIA điều động với những ngưới ngoại quốc như Đức, Na Uy hay Trung Hoa làm thuyền trưởng, nhưng từ năm 64 là lúc SPVZH được thành lập và các chiến đĩnh do HQVNCH điều động thì có rất nhiều công tác thành công. Cũng cần nói thêm, những công tác của MAGSOC đều có tính cách chiến lược hơn là chiến thuật, vì vậy không hẳn đặt nặng vào vấn đề phá hoại mục tiêu hay giết được nhiều địch mà nhằm vào việc thâu thập tin tức tình báo cũng như khuấy rối hậu tuyến địch hoặc chiến tranh tâm lý.&lt;br /&gt;Trong suốt thời gian hoạt động khoảng 8 năm, các PTF thuộc LLHT đã thực hiện trên dưới 1,000 chuyến công tác xâm nhập hải phận Bắc Việt. Khoảng từ năm 1965 đến năm 1970 có nhiều công tác nhất. Đặc biệt trong thời điểm phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc Bắc Việt, có những thủy thủ đoàn đi 5, 6 chuyến công tác mỗi tháng.&lt;br /&gt;LLHT có tới 12 thủy thủ đoàn, gọi là Crew 1 đến Crew 12 (C1 - C12). Cấp số mỗi crew là 19 người. Về PTF cũng có 12 chiếc đặt tên từ Boat 1 đến Boat 12 (B1 - B12). Trên nguyên tắc, mỗi một thủy thủ đoàn chịu trách nhiệm một PTF, thí dụ C1 được giao cho B1, C2 lãnh B2 v.v... Vì vậy, thủy thủ đoàn C1 cũng thường được gọi là B1 v.v... PTF thuộc LLHT không bao giờ hoạt động đơn độc phía trên vĩ tuyến 17 Bắc. Mỗi chuyến công tác gồm từ 2 tới 4 PTF, tùy theo mức độ quan trọng hoặc vùng hoạt động xa hay gần. Trung bình, mỗi chuyến công tác thường có 3 PTF. Tuy mỗi thủy thủ đoàn được giao cho một PTF, nhưng khi đi công tác, bao giờ những chiếc tầu tốt nhất cũng được ưu tiên lựa chọn, vì vậy, thủy thủ đoàn này lấy chiếc tầu kia đi công tác là chuyện rất thông thường.&lt;br /&gt;Sau đây chỉ là một số hoạt động tiêu biểu trong tháng 6 năm 1964.&lt;br /&gt;- Ngày 12, hai toán chiến đĩnh đổ toán đổ bộ lên hai mục tiêu khác nhau tại vùng biển Bắc Việt. Một toán tại vùng Cửa Ron thuộc tỉnh Hà Tĩnh và một toán xa hơn về phía Bắc thuộc tỉnh Thanh Hóa. Toán đổ bộ tại cửa Ron mang theo súng 57 ly không giật đã bắn tan một đồn binh của Bắc Việt tại Hải Khẩu. Toán đổ bộ tại Thanh Hóa đặt mìn phá nổ cầu sông Hàng. Tất cả toán đổ bộ gồm 26 người đều trở về chiến đĩnh vô sự.&lt;br /&gt;- Trong đêm 26 rạng ngày 27, một toán chuyên viên đặt chất nổ gồm 7 người hợp với toán yểm trợ 24 người đã phá nổ một cây cầu trên Quốc Lộ 1 gần Thanh Hóa, hạ sát 2 lính gác cầu và 4 lính Bắc Việt mà không bị thiệt hại.&lt;br /&gt;- Đêm 30 rạng 1 tháng 7, một toán đổ bộ gồm khoảng 30 người đã dùng súng 57 ly không giật bắn sập nhà máy nước tại cửa sông Kiên gần Đồng Hới. Vào khoảng quá nửa đêm, hai PTF 5 và 6 đổ bộ người bằng bè cao su. Toán đổ bộ hoàn tất công tác nhưng đụng độ nặng với lính Bắc Việt. Hai PTF tiến lại gần bờ bắn yểm trợ bằng súng 40 và 20 ly để đưa toán đổ bộ về tầu. Kết quả toán đổ bộ bị thiệt mất 2 người nhưng cũng bắt sống được 2 địch quân. Sau này, Bắc Việt cho biết bắt sống được một Biệt Kích Quân và anh này cho biết thuộc toán đổ bộ đã đánh sập cầu sông Hàng tại Thanh Hóa trước đây. Anh cũng cho biết những Biệt Kích Quân đều được huấn luyện tinh thục và rất quen thuộc với kỹ thuật đổ bộ, có thể đánh phá các mục tiêu trên bộ rồi trở về chiến đĩnh không mấy khó khăn. Anh cũng cho biết các Biệt Kích Quân thích đổ bộ bằng đường biển hơn lối thả dù bằng máy bay vì an toàn và được yểm trợ hữu hiệu hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3. Công Tác Tâm Lý Chiến &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ngoài những công tác đổ toán với mục tiêu phá hoại hay bắt những cán bộ hay lính Bắc Việt để khai thác tin tức tình báo. Các PTF còn thực hiện nhiều công tác khác ngoài biển, không cần dùng tới toán đổ bộ như: xét những ghe đánh cá để thu thập tài liệu hoặc bắt một vài dân đánh cá để khai thác tin tức, bắn phá các mục tiêu trên bộ, bắn truyền đơn vào vùng duyên hải đông dân cư v.v...&lt;br /&gt;Các công tác bắn truyền đơn thường được thực hiện tại vùng bờ biển đông dân cư, khoảng từ vĩ tuyến 18 Bắc trở xuống. Các truyền đơn đã được nạp sẵn vào đầu đạn, 81 ly. Khi tới vùng hoạt động, các PTF chạy rất gần bờ, khoảng từ 1,500 thuớc tớ 2,000 ngàn thước rồi bắn những đầu đạn có truyền đơn vào các xóm làng ven biển. Đầu đạn sẽ nổ trên không như đạn trái sáng và tuyền đơn tung ra như được rải từ trên không. Đôi khi, các PTF cũng thả các máy thâu thanh được bọc kỹ trong túi ny-lông không thấm nước tại các làng dọc theo duyên hải để dân chúng có thể nghe các đài phát thanh miền Nam như Tiếng Nói Tự Do, Mẹ Việt Nam, Gươm Thiêng Ái Quốc v.v...&lt;br /&gt;Công tác bắt dân đánh cá để thực hiện mục tiêu tuyên truyền được thực hiện lần đầu vào ngày 27 tháng 5 năm 1964. Trong chuyến công tác này gồm có một PTF và một Swift bắt một ghe đánh cá tại vùng biển Đồng Hới. Sáu ngư phủ cùng với chiếc ghe được đưa về Cù Lao Chàm gần Đà Nẵng. Tại đây, các ngư phủ được đối xử và cho ăn uống tử tế trong suốt thời gian lưu trú để tuyên truyền. Tới ngày 2 tháng 6, các ngư phủ này được trả về vùng biển trước đây đã bị bắt cùng với thuyền dánh cá của họ và một số quà như máy thu thanh mà người miền Bắc gọi là "đài", vải vóc, thực phẩm, đồ dùng bằng nhựa v.v...&lt;br /&gt;Ngày 7 tháng 7, các chiến đĩnh bắt thêm 3 ghe và ngày 20 tháng 7 thêm 2 ghe khác. Sau này, các Swift không còn đảm nhận công tác phía Bắc của vĩ tuyến 17 nên việc xét và bắt các ngư phủ đều do các PTF thực hiện. Có lẽ vì các PTF có vận tốc nhanh và cũng cao hơn Swift nên việc kéo ghe đánh cá không có người lái về Cù Lao Chàm thường khiến ghe bị chìm nên sau này chỉ chỉ bắt người mà không kéo ghe. Khi thả các ngư phủ, các chiến đĩnh mang theo các thuyền thúng và thả họ tại vùng đã bị bắt trước đây.&lt;br /&gt;Sau này, có tài liệu của Hoa Kỳ nói rằng sau khi bắt ngư phủ, các PTF không kéo theo ghe đánh cá như trước mà để lại đặt chất nổ rồi thả trôi để làm bẫy. Điều này hoàn toàn vô căn cứ. Việc không kéo theo ghe đánh cá thật ra vì lý do thực tế nhiều hơn vì lý do phá hoại. Thông thường ngư dân ngoài Bắc sống dưới chế độ Cộng Sản đều rất nghèo đói, nên ghe đánh cá của họ rất mong manh và sơ sài, chỉ có thể hành nghề tương đối gần bờ trong nhưng ngày biển êm. Vì vậy, ngay cả với Swift là chiến đĩnh loại nhỏ cũng phải kéo rất cẩn thận với vận tóc thật chậm, khoảng dưới 10 hải lý một giờ để tránh ghe bị chìm hoặc bể. Đó là vùng gần vĩ tuyến 17 như Đồng Hới, Quảng Khê dân còn có ghe tuy sơ sài để đánh cá. Xa hơn về phía Bắc như tại vùng Thanh Hóa, Nghệ An, các ngư phủ nghèo đến độ không có còn có ghe mà họ phải dùng "mảng" là một bè gồm nhiều thân cây tre cột lại với nhau bằng "lạt" tức là giây làm bằng tre chẻ nhỏ. Dĩ nhiên, những "mảng" này không có máy mà chạy bằng buồm và chèo. Buồm cũng không làm bằng vải mà làm bằng lá gồi hoặc cói đan lại như chiếc chiếu. Cột buồm cũng làm bằng thân một cây tre lớn. Khi hành nghề trên các "mảng" này, dân đánh cá lúc nào cũng bị ướt vì mảng tuy nổi nhưng luôn luôn sâm sấp nước ngập tới cổ chân! Vì vậy, dù có muốn kéo những "mảng" hay "bè" tre này cũng không được. Về y phục, những người chủ ghe khá lắm mới có được quần áo vá chằng chịt không biết mấy lớp. Đa số người trên mảng chỉ trùm một chiếc "áo tơi" cũng làm làm bằng lá gồi cột lại. Dụng cụ đánh cá của họ là những sợi dây câu cuốn vào ống tre chứ không có lưới.&lt;br /&gt;Chúng tôi còn nhớ một lần xét ghe ngoài khơi cửa Lạch Trường tức cửa bể Sầm Sơn gần Thanh Hóa. Hôm đó, vào khoảng tháng 12, trời mưa phùn với gió Bấc thổi khá lạnh. Khi chiến đĩnh lại gần thấy chiếc mảng trên có 5, 6 ngư phủ đầu đội nón lá, tay kéo chặt chiếc áo tơi lá gồi, ngồi xổm co ro vào một góc như để tránh gió và che chở lẫn cho nhau. Thấy có vẻ khả nghi, nhân viên xét ghe trên chiến đĩnh dùng loa phóng thanh cầm tay (megaphone) ra lệnh cho những người dưới mảng "đứng dậy, dơ tay lên". Các ngư phủ trên mảng nhìn nhau có vẻ bối rối, nhưng khi thấy toán xét ghe trên tầu chĩa súng xuống, họ phải đứng lên và bỏ tay đang giữ chiếc áo tơi để đưa lên khỏi đầu. Lập tức, những chiếc áo tơi lá không còn bị cầm giữ nữa tuột khỏi thân người, rơi xuống mảng. Tất cả mọi người trên chiến đĩnh đều vô cùng ngạc nhiên khi thấy các ngư phủ đều trần truồng, bên trong không mặc quần áo gì cả! Khi đưa họ lên tầu, cho ăn uống no nê, hỏi ra mới biết theo "chỉ số", mỗi người dân chỉ được mua 2 thước vải quốc doanh một năm, mua vải chợ đen thì không có tiền. Vì vậy khi đi biển, người nào có áo vá chằng vá đụp đã là loại sang, còn đa số chỉ đánh chiếc áo tơi lá gồi để che mưa nắng, còn quần áo để đành cho các dịp trọng đại khác.&lt;br /&gt;Về công tác tâm lý chiến, một hạm trưởng thâm niên thuộc LLHT kể lại như sau:&lt;br /&gt;" Trong năm 1967, chúng tôi thi hành một kế hoạch tâm lý chiến đặc biệt. Trong gần ba tháng, chúng tôi bắt hơn 300 ngư dân từ Đồng Hới đến Thanh Hóa, cứ mỗi xã bắt hai người. Sau đó đưa họ về Cù lao Chàm, nuôi họ mỗi ngày nửa con gà. Sau ba tháng, anh nào anh nấy mập ú, da dẻ hồng hào. Chúng tôi thả họ về nguyên quán sau đó để xem phản ứng của dân chúng cũng như chính quyền miền Bắc như thế nào. Quả như chúng tôi nghĩ, trong sáu tháng sau, chúng tôi cố gắng bắt lại vài ngư phủ này để khai thác, nhưng tìm mãi cũng chẳng được người nào. Đến gần chín tháng mới bắt được một người, anh ta than thở: "Mấy ông hại tui. Khi mấy ông thả tui về, chính quyền địa phương thấy tui mập quá, đem nhốt cải tạo tư tưởng, đến bây giờ mới cho về."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;IX. PTF và Biến Cố Vịnh Bắc Việt&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trong thời gian Khu Trục Hạm Mađox của Hải quân Hoa Kỳ bị tấn công tại vịnh Bắc Việt, công tác của chiến hạm có lắm trùng hợp với những hoạt động của các PTF thuộc LLHT. Vì có nhiều dư luận cho rằng các PTF và chiến hạm Mađox đã phối hợp để khiêu khích Bắc Việt phải nhảy vào vòng hải chiến để Hoa Kỳ có cớ oanh tạc miền Bắc, chúng tôi tóm tắt một số diễn tiến liên hệ để độc giả có thể tự tìm câu trả lời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Hoạt Động Của Khu Trục hạm Mađox &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Sáng sớm ngày 31 tháng 7 năm 1964, Khu Trục Hạm Mađox (Đ 731) của Hải Quân Hoa Kỳ tới bờ biển Việt Nam, vùng ngang vĩ tuyến 17 để bắt đầu cuộc tuần tiễu dọc bờ biển Bắc Việt đặt tên làDesoto.&lt;br /&gt;Tới trưa ngày 2/8, khi chiến hạm đang ở vị trí cách bờ chừng 18 hải lý và cách Hòn Mê chừng 10 hải lý thì bị 3 ngư lôi đĩnh Bắc Việt mang số T-333, T-336 và T-339 tấn công bằng ngư lôi. Kết quả cả 3 tầu Bắc Việt bị bắn hư hại nặng, Khu Trục Hạm Mađox không bị thiệt hại.&lt;br /&gt;Sang ngày 3/8, Khu Trục Hạm Mađox được lệnh của Đô Đốc Johnson, Tư Lệnh Đệ Thất Hạm Đội tiếp tục cuộc tuần tiểu Desoto, nhưng lần này có thêm Khu Trục Hạm Turner Joy (Đ 971) tăng cường. Theo phúc trình của Hải Quân Hoa Kỳ, khoảng 2134G ngày 4/8, hai chiến hạm báo lại bị tầu Bắc Việt bị tấn công và bắt đầu khai hỏa vào lúc 2139G, lúc đó mục tiêu cách khoảng 8,000 yards. Sau này, có nhiều người cho rằng cuộc đụng độ lần thứ hai này không xảy ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Hoạt động của PTF trong thời gian có cuộc tuần tiễu Desoto&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;- Ngày 22/7/64, bốn chiến đĩnh gồm các PTF-3, PTF-4, PTF-5, PTF-6 chuẩn bị công tác đổ biệt kích đánh phá các trạm gác quân sự tại Hòn Mật và đài radar duyên phòng Vinh Sơn (gần hải cảng Bến Thủy, thành phố Vinh), nhưng công tác phá hoại bị thay đổi vào giờ chót vì không ảnh do phi cơ U-2 chụp vào lúc sáng sớm phát hiện 2 tầu Swatow của địch trong vùng Hòn Niếu và 3 chiếc khác tại vùng Hòn Mê nằm về phía Bắc của mục tiêu chừng 50 hải lý. Tuy nhiên, các PTF vẫn lên đường với nhiệm vụ tuần thám vùng duyên hải và chuẩn bị hải chiến với các tầu Bắc Việt thay vì đổ biệt kích phá hoại. Nhưng không rõ vì tin tức tình báo không chính xác hay tầu địch lẩn tránh, không thấy tầu địch nghênh chiến.&lt;br /&gt;- Ngày 27/7/64, hai PTF đang yểm trợ cho hai tầu Swift xét ghe tại một địa điểm ngoài khơi Vinh Sơn thì tầu Swatow địch xuất hiện, có lẽ xuất phát từ căn cứ Quảng Khê ở cửa sông Giang. Đã được chỉ thị đề phòng tầu địch tấn công bất ngờ từ trước, các PTF hộ tống các tầu Swift tiến xa ra ngoài khơi rồi chuẩn bị nghênh chiến nhưng các Swatow Bắc Việt không giám đuổi theo. Vì mục đích chính của chuyến công tác là xét ghe chứ không phải chận đánh tầu địch nên các PTF cũng trở về căn cứ mà không tham chiến.&lt;br /&gt;- Ngày 30/7/64, một toán 4 chiến đĩnh gồm các PTF-2, PTF-3, PTF-5 và PTF-6 lên đường công tác. Mục tiêu là đổ toán đổ bộ lên các đảo Hòn Niếu và Hòn Mê để đặt chất nổ phá hoại các vị trí quân sự. Hòn Mê nằm cách bờ chừng 12 cây số, vào khoảng vĩ độ 19 độ Bắc, ngoài khơi của Lạch Tray (Sầm Sơn). Hòn Niếu nằm xa hơn về phía Nam, ngoài khơi hải cảng Bến Thủy thuộc thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) cách bờ chỉ chừng 4 cây số.&lt;br /&gt;Đây là một chuyến công tác rất gay go, nhiều nguy hiểm vì phải đổ bộ biệt kích sâu trong lòng địch với tin tức tình báo và không ảnh cho thấy tầu địch đang phục sẵn tại vùng mục tiêu. Do đó, thủy thủ đoàn các PTF tham dự chuyến công tác đều được đặc biệt tuyển chọn trong số những toán nhiều kinh nghiệm cũng như thiện chiến nhất.&lt;br /&gt;Vào khoảng gần nửa đêm 30/7, lúc 2315H, các PTF đến điểm tập trung cuối cùng phía Đông Nam của Hòn Mê, tọa độ 19 độ Bắc, 106.16 độ Đông. Tại đây, toán chiến đĩnh chia làm 2 phân đội: phân đội Bắc gồm các PTF-3 và PTF-6 hướng về mục tiêu Hòn Mê và phân đội Nam gồm các PTF-5 và PTF-2 di chuyển tới mục tiêu Hòn Niếu.&lt;br /&gt;Phân đội Bắc vùng mục tiêu là một địa điểm phía nam Hòn Mê vào hồi 0021H ngày 31/7. Hòn Mê tuy gọi là một hải đảo nhưng thật ra là một hòn núi lớn giữa biển với cây cối dầy đặc nên rất khó quan sát những hoạt động trên đảo, nhất là vào ban đêm. Trên đỉnh Hòn Mê với cao độ chừng 500 thước trên mặt biển, Bắc Việt đặt một giàn hải pháo duyên phòng có thể bắn tới các mục tiêu trên biển cách xa chừng 15 hải lý.&lt;br /&gt;Hai chiến đĩnh thận trọng tiến vào mục tiêu theo đúng đội hình đổ bộ, một chiếc canh phòng phía ngoài, chiếc kia chở toán tới điểm đổ bộ cách bờ chừng 2,000 thước. Toán đổ bộ dự trù sẽ đặt chất nổ phá hoại một tháp canh và các cơ sở quân sự trên đảo. Trong lúc toán đổ bộ đang chuẩn bị thả xuồng cao su, thủy thủ đoàn dùng ống nhòm quan sát thấy một chiếc Swatow của địch đang nằm sát trong bờ. Cùng lúc đó, tầu địch khai hỏa trước bằng đại bác 37 ly và thượng liên. Tuy bị tấn công trước nhưng các PTF phản pháo hữu hiệu làm im tiếng súng địch chỉ sau vài phút giao tranh. Sự hiện diện của tầu địch tại Hòn Mê không làm thủy thủ đoàn các PTF ngạc nhiên vì điều này chỉ xác nhận những tin tức tình báo từ trước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì đã bị lộ nên cuộc đổ bộ bắt buộc phải hủy bỏ, các PTF chuyển sang kế hoạch dự phòng là bắn phá các mục tiêu trên bờ bằng hải pháo cơ hữu 40 ly, 20 ly, 81 ly trực xạ và súng 57 ly không giật của toán đổ bộ tăng cường. Đây là cuộc bắn phá các mục tiêu trên bộ lần đầu tiên của các PTF trong khuôn khổ OPLAN 34A. Chỉ trong vòng khoảng 20 phút, hỏa lực dữ dội của hai PTF-3 và PTF-6 đã hoàn toàn phá hủy các mục tiêu chỉ định cùng nhiều ổ súng đại liên. Hoàn tất công tác, hai chiến đĩnh rời vùng vào hồi 0048H. Sau này, theo tin tình báo của Hoa Kỳ, một tầu Swatow mang số T-142 đến tăng cường toán phòng thủ Hòn Mê cố gắng theo dõi hoạt động của toán PTF nhưng không giám tham chiến. Tài liệu kiểm thính của Hoa Kỳ ghi nhận thuyền trưởng chiếc T-142 báo cáo về bộ chỉ huy viện cớ vận tốc của các PTF quá cao nên theo không kịp nên phải bỏ cuộc. Có lẽ vì chiếc Swatow này ẩn trốn trong bờ nên các PTF không phát hiện được.&lt;br /&gt;Cùng lúc với các hoạt động diễn ra sôi nổi tại Hòn Mê, hồi 0037H, các PTF thuộc phân đội Nam cũng tiến vào mục tiêu là một đài truyền tin trên đảo Hòn Niếu, chỉ cách mục tiêu chừng 800 thước. Nhưng có lẽ vì được đồng bọn tại Hòn Mê báo động trước nên toán phòng thủ Hòn Niếu chuẩn bị phản ứng. Thấy cuộc đổ bộ bất lợi, sĩ quan trưởng toán phân đội Nam quyết định hủy bỏ cuộc đổ bộ, thay vào đó điều động bắn phá mục tiêu bằng hải pháo trên PTF. Vì mục tiêu quá rõ ràng và tương đối gần, đài truyền tin địch bị phá hủy chỉ trong vài loạt đạn đầu tiên. Sau đó, các PTF chuyển xạ qua các mục tiêu phụ như những cơ sở quân sự vá vị trí phòng thủ. Sau hơn nửa giờ bắn phá không còn thấy địch bắn trả, các PTF-2 và PTF-5 rời vùng hành quân trở về căn cứ.&lt;br /&gt;Phân đội Bắc về tới căn cứ Đà Nẵng vào khoảng 10 giờ sáng ngày 31/7. Phân đội Nam về hơi trễ hơn, khoảng 11 giờ sáng vì PTF-2 bị trục trặc máy móc sau một cuộc hành trình khá xa.&lt;br /&gt;- Chiều ngày 3/7, bốn chiến đĩnh gồm PTF-1, PTF-2, PTF-5 và PTF-6 rời căn cứ Đà Nẵng lên đường công tác. Mục đích là bắn phá các mục tiêu dọc duyên hải Bắc Việt tại Mũi Vinh Sơn và Cửa Ron gần thành phố Vinh, phía Bắc vĩ tuyến 17 chừng 70 hải lý.&lt;br /&gt;PTF-2 vì trục trặc máy móc giống như chuyến công tác kỳ trước nên phải quay trở về. Tới khoảng 2300G, các PTF-1 và PTF-5 dùng hải pháo bắn vào mục tiêu là đài radar Vinh Sơn trong vòng 20 phút. Chiếc PTF-6 còn lại một mình hoạt động tại cửa sông Gianh, bắn phá các mục tiêu trên bờ và một nhóm ngư lôi đĩnh Bắc Việt tại cầu tầu căn cứ Hải Quân Quảng Khê. Một chiến đĩnh Bắc Việt rời bến đuổi theo PTF-6 nhưng sau chừng 40 phút phải quay trở lại vì không theo kịp. Sau khi hoàn tất công tác, các PTF về Đà Nẵng an toàn.&lt;br /&gt;Trong cuộc tấn công vào Hòn Ngự và Hòn Mê vào đêm 30 rạng 31/7, Bắc Việt không cho rằng chiến hạm Mađox đã tham dự, nhưng trong cuộc bắn phá đêm 3 rạng 4/8, Bắc Việt ghi rõ rằng lực lượng tấn công gồm 4 PTF từ Đà Nẵng và 2 Khu Trục Hạm Hoa Kỳ. Một trong những lý do khiến Bắc Việt không nắm vững được số chiến đĩnh tham chiến vì đài radar Vinh Sơn đã bị các PTF bắn hư hại năng không còn hoạt động được.&lt;br /&gt;X. Khả Năng Phòng Duyên Bắc Việt&lt;br /&gt;Hệ thống phòng duyên của Bắc Việt gồm các tầu Hải Quân, ghe đặc công, các giàn radar và đại bác đặt dọc theo duyên hải.&lt;br /&gt;Các tầu của Hải Quân Bắc Việt chỉ có khả năng hoạt động trong vùng "nước nâu" dọc theo duyên hải. Theo tin tức tình báo, vào thời đó, Hải Quân Bắc Việt có 4 Hộ Tống hạm loại SO1, 12 Ngư Lôi Đĩnh P4 và mộ số Khinh Tốc Đĩnh loại Swatow.&lt;br /&gt;Hộ Tống Hạm SO1, trọng tải chừng 250 tấn, do Nga Sô viện trợ, 2 chiếc vào năm 60-61 và 2 chiếc nữa vào năm 64-65. Tầu dài 140 ft, rộng 20 ft, máy loại diesel, vận tốc tối đa 28 gút, thủy thủ đoàn 30 người. Vũ khí gồm 2 giàn đại bác 25 ly đôi đặt trước mũi và sau lái, ngoài ra còn có 4 giàn thủy lựu đạn dùng để chống tầu ngầm. Vào ngày 1/2/66, một chiếc SO1 bị phi cơ Hoa Kỳ đánh chìm, 3 chiếc còn lại bị hư hại hay bất khiển dụng nên không thấy xuất hiện. Đối với các PTF nhẹ nhàng hơn, loại chiến hạm cũ kỹ tuy có hỏa lực khá mạnh nhưng với vận tốc tương đối kém này không phải là mối lo ngại.&lt;br /&gt;Ngư Lôi Đĩnh loại P4 có thể coi là lực lượng chính đáng kể nhất của Hải Quân Bắc Việt, có thể gây thiệt hại cho địch thủ lớn hơn. Chính ngư lôi đĩnh loại P4 này đã đụng độ với Khu Trục Hạm Mađox vào ngày 2/8/64. Đây là loại tầu nhỏ, trọng tải chừng 50 tấn, dài 85 ft, rông 20 ft máy Diesel, vận tốc tối đa 40 gút. Vũ khí gồm 1 giàn thượng liên đôi đặt sau lái và 2 ống phóng ngư lôi đôi đặt hai bên hông tầu. Mỗi quả ngư lôi mang đầu nổ 550 lbs TNT có thể đánh chìm chiến hạm lớn. Tuy nhiên, tầm hữu hiệu của ngư lôi rất ngắn khiến ngư lôi đĩnh phải vào các mục tiêu không quá 1 cây số. Radar thuộc loại 253 còn có tên là "Skinhead", tầm rất ngắn chừng 15 hải lý trong thời tiết tốt. Thông thường, P4 phải chạy với vận tốc cao để phóng ngư lôi nên ăng ten radar phải hạ xuống để bớt cản gió và cũng để khỏi bị hư hại khi tầu nhảy sóng. Tuy P4 có vận tốc khá cao nhưng vẫn còn kém xa PTF; hơn nữa vũ khí chính là ngư lôi coi như không có hiệu quả đối với khinh tốc đĩnh vừa nhỏ vừa nhanh, radar lại có tầm hoạt động ngắn hơn, hỏa lực chỉ có thượng liên, vì vậy P4 không phải là đối thủ của PTF. Đa số các P4 đề đã bị phi cơ Hoa Kỳ đánh chìm trong các cuộc oanh tạc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khinh Tốc Đĩnh Swatow trọng tải 67 tấn, dài 83.5 ft, rộng 20 ft, vận tốc tối đa 40 gút. Vũ khí trang bị gồm 2 khẩu đại bác 37 ly đôi. Đây là một đối thủ khá ngang tay với PTF, nhưng PTF có vận tốc cao hơn nên Swatow khó lòng theo kịp. Một số khá lớn Swatow cũng đã bị phi cơ Hoa Kỳ đánh chìm.&lt;br /&gt;Trong những năm hoạt động, các vụ đụng độ giữa PTF và tầu phòng duyên Bắc Việt rất hiếm, nghe đâu chỉ có vài vụ. Một phần vì tiểu đĩnh Bắc Việt không giám ra xa bờ vì sợ bị phi cơ oanh tạc, phần khác vì thấy yếu thế. Một Hạm Trưởng PTF kể lại một vụ đụng độ hiếm có như sau:&lt;br /&gt;" Trong suốt 5 năm hoạt động, chúng tôi chỉ chạm trán với các chiến đĩnh BV một lần vào đầu năm 1968. trong một chuyến công tác do anh X. khóa 9 làm Phân đội trưởng, tôi đi vị trí 2, Y. khóa tôi đi vị trí 3. Trên đường về đến Mũi Đào phía bắc Đồng Hới khoảng 3 giờ sáng, radar phát hiện 3 đối vật từ trong bờ đang tiến đến gần chúng tôi với vận tốc cao. Lập tức, anh X. báo cáo ra Đệ Thất Hạm Đội, cho phân đội vào đội hình chiến đấu và tăng vận tốc lên 55 gút. Theo đúng chiến thuật hải Quân, chúng tôi cố gắng vận chuyển vào đầu chữ T để các khẩu trọng pháo có thể đồng loạt khai hỏa về phía hữu hạm. Địch cũng cố gắng chiếm thế thượng phong. Cuối cùng, hai bên ở thế cài răng lược. Địch khai hỏa trước, còn chúng tôi chỉ tác xạ khi còn cách độ 1000 yards.&lt;br /&gt;Trong cuộc giao tranh ngắn ngủi, chiến đĩnh của anh X. bị trúng đạn hư hại nhẹ, một số nhân viên bị thương. Hai chiếc chúng tôi hộ tống chiến đĩnh bạn về hậu cứ an toàn, Trong những ngày sau đó, tin tình báo cho biết lực lượng địch bị thiệt hại khá nặng vì họ khai hỏa quá sớm, lại tập trung hỏa lực vào chiếc anh anh X. nên bị hai chiến đĩnh của tôi và Y. bắn trúng."&lt;br /&gt;Ghe đặc công: Vì thấy các PTF thường xuyên xét và bắt người trên các ghe đánh cá, Việt Cộng lợi dụng cơ hội này dùng các loại ghe đặc công, bố trí sẵn vũ khí và chất nổ trà trộn trong đám ghe đánh cá để phục sẵn. Khi PTF đến gần, địch bất thần bắn B40 hay liệng chất nổ lên PTF. Tuy chiến thuật này đã vài lần gây thiệt hại cho PTF, nhưng các tên đặc công đều bị bắn chết và thuyền bị đánh chìm ngay tại chỗ.&lt;br /&gt;- Radar duyên phòng: Bắc Việt đặt một số các đài radar dọc theo duyên hải để theo dõi các PTF hoạt động ngoài biển. Nhưng về sau, các đài radar này đều bị phá hủy hoặc bị phi cơ oanh tạc thường xuyên nên không còn hoạt động hữu hiệu.&lt;br /&gt;- Đại bác phòng duyên: Đây là những giàn đại bác đặt trên đỉnh những hải đảo hay mũi đá cao dọc duyên hải để bắn ra ngoài biển. Tầm bắn của những đại bác này khá xa, khoảng 15 hải lý. Tuy bị bắn khá thường xuyên nhưng không có PTF nào bị trúng đạn. Đôi khi, địch còn neo sẵn những ghe khá lớn ngoài biển tại những mục tiêu đã được chấm sẵn tọa độ để làm mồi nhử. Khi các PTF tiến gần để chận xét, pháo binh địch lập tức khai hỏa. Nhưng chiến thuật này cũng không mang lại kết quả cụ thể nào. Tuy không bắn trúng PTF, nhưng đại bác phòng duyên đã bắn trúng một số chiến hạm Hoa Kỳ là mục tiêu lớn hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;XI-. Thiệt Hại &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trong suốt khoảng 8 năm hoạt động, thiệt hại của LLHT do địch gây ra coi như không đáng kể.&lt;br /&gt;Về mặt chiến đĩnh, không có chiếc nào bị chìm vì trúng đạn địch quân, chỉ có một số bị hư hại nhẹ. Tuy nhiên, có một số bị mắc cạn. Điều này cũng dễ hiểu vì đa số những chuyến công tác đều được thực hiện vào ban đêm, khá gần bờ trong một vùng duyên hải không mấy quen thuộc. Tất cả những PTF mắc cạn sau đó đều bị phi cơ Hoa Kỳ dội bom phá hủy để khỏi rơi vào tay địch quân. Cũng có trường hợp một PTF bị chìm vì trúng hỏa tiễn của phi cơ Hoa Kỳ bắn lầm.&lt;br /&gt;Về phương diện nhân sự, thiệt hại do địch quân gây ra cũng rất nhẹ, chỉ có chừng vài chục người thương vong trong số hàng ngàn chuyến công tác. Thiệt hại nhân mạng nặng nhất xảy ra khi một PTF bị tầu bạn bắn lầm trong lúc tác chiến khiến 2 sĩ quan tử thương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;XI I . Một Số Ngộ Nhận Và Nghi Vấn Về LLHT &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Vì là một đơn vị Biệt Kích được ngụy trang rất khéo léo, nên rất ít người biết rõ về tông tích nhân viên LLHT. Nhiều khi ngay cả các bạn đồng đội phục vụ trong các đơn vị Hải Quân thông thường cũng không rõ họ ở đâu, ngoại trừ có dịp đi công tác tại vùng Đà Nẵng. Các chiến đĩnh thuộc LLHT cũng là nguồn gốc của nhiều cuộc tranh luận khá sôi nổi, nhất là đối với những tác giả và người không quen thuộc với Hải Quân.&lt;br /&gt;Vì vậy, cho tới bây giờ, sau khi chiến tranh chấm dứt đã gần 30 năm, cũng vẫn còn nhiều ngộ nhận và nghi vấn liên quan tới LLHT. Ngay cả những nhân viên từng phục trong MACSOG cũng như các tác giả Hoa Kỳ vẫn kể và viết lại lắm điều thiếu rõ ràng hoặc không đúng sự thật. Đây không phải vì họ cố tình xuyên tạc, nhưng theo nguyên tắc tình báo, mỗi người chỉ biết được phần nhiệm của mình nên ít ai có được cái nhìn toàn bộ và trung thực.&lt;br /&gt;Sau đây là những "sự thật" mà chúng tôi biết được về một số nghi vấn và ngộ nhận trong các sách vở Hoa Kỳ cũng như Việt Nam.&lt;br /&gt;- Về Nhân Viên&lt;br /&gt;Tác giả Anthony Austin, trong cuốn sách President's war nói rằng tuy có người Việt Nam trên các chiến đĩnh, nhưng không có ai thuộc HQVN hoặc mặc quân phục Hải Quân. Tất cả thủy thủ đoàn chiến đĩnh đều là dân "đánh mướn".&lt;br /&gt;Trong tài liệu "Maritime Operation" của MACSOG cũng nói cho tới đầu năm 1964, vì không tuyển mộ được nhân viên thuộc HQVN nên phải mướn nhân viên dân sự.&lt;br /&gt;Trong cuốn sách "Tonkin Gulf and the Escalation of Việt Nam War, tác giả là "Sử gia" Edwin Moise của Trường Đại Học Clemson viết rằng: "có nhiều bằng chứng xác thực cho thấy thủy thủ đoàn các chiến đĩnh Nasty thuộc HQVN và họ mặc quân phục trong khi thi hành công tác" (There is good evidence that the Nasty boat crews belonged to the South Vietnammese navy and wore uniform while on operation" (trang 15). Giáo Sư Moise cũng nói: "Hải Quân VNCH cho biết đã tuyển lựa những nhân viên xuất sắc nhất để xung vào LLHT và đặc biệt các sĩ quan đã chứng tỏ họ là những người xuất sắc... (trang 15) - (The RVN Navy had said it was assigning the cream of its men to this program, and the officers in particular were convinced they were the cream".&lt;br /&gt;Sự thật:&lt;br /&gt;Kể từ khi LLHT được thành lập, thủy thủ đoàn của các chiến đĩnh đều thuộc HQVN, tuy nhiên, họ KHÔNG mặc quân phục HQ trong lúc đi công tác. Giáo Sư Moise đã nói đúng về nhân viên đều là những người xuất sắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Về Trang Bị Và Công Tác&lt;br /&gt;Tác giả Điệp Mỹ Linh trong cuốn "Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Ra Khơi" viết: "Các khinh tốc đĩnh (PT - Motor Torpedo Boat) dài độ 80 feet, vỏ bằng nhựa, máy chạy bằng dầu cặn, được đóng tại Na Uy, vận tốc trên 50 hải lý một giờ. Các PT thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải có biệt danh là "Nasty" và "Swift". Mỗi PT thường được trang bị: một súng cối 130 hoặc 81 ly, quay và nhắm được, đặt sau đài chỉ huy; hai đại liên 50 đôi đặt hai bên và một trọng pháo phòng không 40 ly, hai nòng, bắn tự động." (trang 69). Cũng tại trang 69: "Sau khi thi hành công tác từ Bắc về, tinh thần và thể chất quân ta mệt mỏi, rã rời, PT Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa thường bị PT Việt Cộng chận đánh, khoảng Hòn Cọp. PT Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa cũng thường bị MiG Bắc Việt (bay từng cặp) phát giác bằng radar và dùng hỏa tiễn tầm nhiệt tấn công. Việt Cộng thường dùng loại tàu Kronstad, vận tốc độ 35 hải lý một giờ và loại P4, vận tốc 65 hải lý một giờ và trang bị 6 giàn đại liên 50 đôi để tấn công PT Nam Việt Nam".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Sự Thật: &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;- Các PTF vỏ bằng ván ép hoặc bằng nhôm, không phải bằng nhựa.&lt;br /&gt;- Chỉ có PTF do Na Uy đóng có biệt danh là "Nasty", còn "Swift" là biệt danh của PCF.&lt;br /&gt;- PTF chỉ có súng cối 81 ly đặt TRƯỚC đài chỉ huy, không có súng cối 130 ly; còn PCF súng cối 81 ly mới đặt sau đài chỉ huy.&lt;br /&gt;PTF không có đại liên 50, chỉ có đại bác 20 đặt bên hông. Đại bác 40 ly một nòng, không phải loại hai nòng. Quân ta khi đi công tác về tuy hơi mệt mỏi sau một đêm thức trắng, nhưng không đến độ "rã rời".&lt;br /&gt;PTF không "thường" bị PT Việt Cộng chận đánh khoảng Hòn Cọp. Lý do vì đa số PT Việt Cộng đã bị đánh chìm; chiếc nào còn lại chỉ lẩn trốn trong bờ, không giám nghênh chiến với các PTF trội hơn về hỏa lực cũng như tốc độ, ngoài ra các PTF còn có thể gọi phi cơ Hoa Kỳ trợ chiến khi cần. Chúng tôi còn nhớ trong chiến dịch "Double Tango", các PTF phong tỏa và pháo kích Hòn Cọp liên tiếp cả tháng trời, không thấy có PT Bắc Việt nào chận đánh. Trong suốt 5 năm ở LLHT với trên 100 chuyến công tác, chúng tôi cũng chưa hề nhìn thấy một PT Việt Cộng nào bằng mắt thường. Ban đêm cũng chưa từng "phát hiện" (track) được chiếc nào bằng radar. Theo chúng tôi được biết, trong hàng ngàn chuyến công tác, chỉ có vài ba cuộc đụng độ giữa PTF và các PT Bắc Việt. Bắc Việt gọi Hòn Cọp là Cồn Cỏ. Nói đến hòn đảo này, môt Hạm Trưởng PTF cho biết:&lt;br /&gt;"Trên vĩ tuyến 17, ngoài khơi Vĩnh Linh độ 30 hải lý là một hòn đảo nhỏ mà suốt ngày đài Hà Nội tuyên dương là "Cồn Cỏ anh hùng". Nơi đây có một đơn vị Hải Quân Bắc Việt trú đóng và cũng có trang bị một số súng phòng duyên. Chỉ tội cho các đồng chí cán binh phải ở trong tình trạng ứng chiến tháng này qua tháng nọ. Các chiến đĩnh mỗi khi đi công tác về đều được lệnh tặng vài quả đạn vào đảo để các đồng chí tỉnh ngủ. Các phi cơ Hoa Kỳ cũng dùng đảo này là nơi trút hết bom đạn trước khi về căn cứ".&lt;br /&gt;- Tầu Kronstad tốc độ tối đa lý thuyết chỉ lên đến khoảng 28 hải lý một giờ; Việt Cộng chưa chắc đã có loại tầu này. Còn P-4 vận tốc tối đa 45 hải lý một giờ.&lt;br /&gt;- Nghe đâu chỉ có một vài vụ phi cơ Bắc Việt tấn công PTF. Ngoài ra, hỏa tiễn tầm nhiệt của phi cơ chỉ dùng cho các mục tiêu trên không như trong các trận không chiến hoặc trên đất như chiến xa. Đối với các mục tiêu trên biển, hỏa tiễn không-hải của Mig chỉ là loại thông thường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;- Trang Bị Và Huấn Luyện &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Tác giả Vương Hồng Anh trong bài "Biệt Hải và Hải Tuần: Trận chiến với CQ ở Duyên Hải" đăng trong Việt báo Kinh Tế ngày 3/12/99, viết: "... Các cố vấn Hải Quân SOG đã biến cải 12 giang tốc đĩnh Swift để xử dụng trong các cuộc hành quân bí mật. Với vận tốc 80 km/giờ, các giang tốc đĩnh được võ trang với đại bác 40 ly và các vũ khí nhẹ. SOG đã đưa thủy thủ đoàn giang tốc đĩnh và các biệt kích từ Long Thành đi huấn luyện xâm nhập bờ biển và oanh kích vùng cận duyên, các toán này được huấn luyện tại môt căn cứ bí mật ở phía nam gần Sài Gòn. Các giang tốc đĩnh đã tập dượt chạy ngoài khơi miền Nam Việt Nam xa bờ từ 100 đến 110 km để có thể tiến gần từ ngoài biển vào Bắc Việt vì con đường biển sát bờ rất đông thuyền bè qua lại khó lòng mà lọt và không bị theo dõi phát hiện".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Sự Thật: &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Swift không phải là GIANG Tốc Đĩnh mà là DUYÊN Tốc Đĩnh. Giang Tốc Đĩnh (Patrol, Boat River - PBR) là loại tầu nhỏ, vỏ bằng Fiberglass. Chiến đĩnh ngoài biển có thể hoạt động trong sông, nhưng ngược lại, các giang đĩnh khi ra biển rất dễ bị sóng đánh chìm, nhất là khi chạy xa bờ từ 100 đến 110 km. Các thủy thủ đoàn PTF và Swift đều được huấn luyện tại vùng biển Đà Nẵng. Hải trình các chuyến công tác cũng thường song song với bờ biển Bắc Việt, rất ít khi xa bờ tới 100 km.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;- Căn Cứ Hải Quân Việt Cộng &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Tác giả Vương Hồng Anh cũng viết về "Chuyến đột kích phá tàu CSBV ở Hòn Cọp" như sau: "Chuyến công tác đầu tiên là toán Người Nhái bí mật đột kích phá hoại tàu của quân CSBV ở Hòn Cọp..."&lt;br /&gt;Sự Thật:&lt;br /&gt;Việt Cộng không có căn cứ hải quân tại Hòn Cọp và tại đây cũng không có bãi ủi hay chổ neo tầu. Căn cứ hải quân của VC gần vĩ tuyến 17 nhất là Đồng Hới. Theo chỗ chúng tôi được biết, đây là chuyến công tác nhắm vào căn cứ Quảng Khê nằm ở cửa sông Gianh.&lt;br /&gt;- Thủy Thủ Đoàn&lt;br /&gt;Những nhân viên Hoa Kỳ phụ trách việc huấn luyện có thực sự đi theo những chuyến công tác vượt vĩ tuyến 17 không? Mặc dù bị chính sách Hoa Kỳ nghiêm cấm, nhưng điều này có được tuyệt đối tôn trọng không? Theo Đại Tá Bucklew, Chỉ Huy Trưởng Toán Yểm Trợ Hành Quân Hải Quân chịu trách nhiệm về các nhân viên Hoa Kỳ hoạt động cho MACSOG, thì điều luật này thường hay bị vi phạm (habitually violated the prohibition). Sử gia Moise cũng phỏng vấn Đại Tá Bucklew về vấn đề này và viết trong cuốn sách của ông như sau: "Thực ra, Đại Tá Bucklew biết rằng không có trường hợp nào các PTF ở Đà Nẵng đi công tác mà không có nhân viên Hoa Kỳ đi theo. Ông nhớ ràng chính người Mỹ điều hành chiến đĩnh, trong khi nhân viên Việt Nam đi đóng vai trò phụ việc. Ông cũng nói là vào khoảng năm 1964, đã có đề nghị để sĩ quan và thủy thủ đoàn Việt Nam điều hành chiến đĩnh trong những chuyến công tác, nhưng đề nghị này đã bị bác bỏ vì người Việt Nam không đủ khả năng" (trang 16) - (Indeed, he is not aware of any cases in which the PTFs from Danang went on combat operation without American personnel aboard. His recollection is that the Americans were running the boat, with the Vietnamese along in what was essentially an apprenticeship role. He states that there were suggestions during 1964 that Vietnamese officers and men be given actual responsibility for handling the boats on combat missions, but that these suggestions had been opposed on the grounds that the Vietnamese did not have the skills".&lt;br /&gt;Cũng theo sử gia Moise, trong cuộc phỏng vấn ngày 10/3/88, "Đô Đốc Roy L. Johnson, Tư Lệnh Đệ Thất Hạm Đội kể từ tháng 6/64, nhớ lại rằng thủy thủ đoàn Việt Nam đã chứng tỏ rằng không tin tưởng được. Khi đi công tác ngoài Bắc, đôi khi họ chỉ chạy lòng vòng vài tiếng đồng hồ ngoài biển rồi khai gian là đã hoàn thành công tác giao phó. Do đó, thủy thủ đoàn người Hoa Kỳ đã phải được dùng để thay thế người Việt Nam. Đô Đốc Johnson cũng "khá chắc chắn" rằng vào khoảng tháng 8/64, thủy thủ đoàn Hoa Kỳ đã được dùng trong các công tác đột kích duyên hải Bắc Việt. Nếu sự thay đổi không phải là vào lúc này thì cũng chỉ ít lâu sau đó" (trang 16) - (Vice Admiral Roy L. Johnson, commander of the U.S. Seventh Fleet starting in June 1964, recalls that the Vietnamese crews had proved unreliable. When sent out to an operation against the North, they sometimes just cruised around in circles for a few hours off shore, and then filed a false report claiming that they had conducted the assigned operation. Admiral Johnson is "pretty sure" that American crews were used on raods against the Nort Vietnamese coasts by August 1964; if the change had not come by this time, it come soon after".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự Thật:&lt;br /&gt;Trong những chuyến công tác vượt vĩ tuyến 17 qua hải phận Bắc Việt, KHÔNG hề có người Mỹ đi theo. Việc thủy thủ đoàn người Hoa Kỳ đưa PTF ra Bắc công tác chỉ có trong trí tưởng tượng của ông Tư Lệnh Đệ Thất Hạm Đội, vì lúc nào ông cũng nghĩ rằng chỉ có những thủy thủ của ông mới tin tưởng được. Trong nhiều trường hợp, thực tế đã chứng tỏ một hạm trưởng PTF thâm niên biết nhiều về chiến đĩnh và đáng tin tưởng hơn những "cố vấn" chân ướt chân ráo mới tới rất nhiều.&lt;br /&gt;Ngoài ra, các PTF khi đi công tác phải theo hải trình vạch sẵn tới những "check point" vào đúng giờ giấc ấn định để lực lượng bạn không ngộ nhận với tầu địch, vì vậy không hề có chuyện chạy lòng vòng.&lt;br /&gt;Về vấn đề "người Mỹ" này, một hạm trưởng phục vụ lâu năm tại LLHT cho biết như sau:&lt;br /&gt;"LLHT có lẽ là đơn vị độc nhất của QLVNCH mà trong 8 năm chiến đấu trong lòng địch không có một cố vấn Mỹ nào đi theo, các cố vấn NAD chỉ có nhiệm vụ yểm trợ, tình báo, tiếp vận và sửa chữa tầu. Tình cảm của họ đối với chúng tôi tất là sâu đậm. Đôi khi một vài Sĩ Quan hay Hạ Sĩ Quan Mỹ nói đùa thế nào họ cũng đi công tác với chúng tôi một lần. Không ngờ nói chơi mà hóa thật. Trong một chuyến công tác do anh H. làm Phân Đội Trưởng, tôi đi vị trí hai. Vừa qua khỏi vĩ tuyến 17 thì đột nhiên có hai anh chàng Hạ Sĩ Quan Trọng Pháo Mỹ từ hầm tầu bước lên, mặt mày hớn hở tình nguyện đặt dưới quyền chỉ huy của tôi trong chuyến công tác này. Tá hỏa, tôi báo cáo cho anh H. xin quyết định. Anh H. báo cáo ngay về phòng hành quân; chỉ 10 phút sau, lệnh khẩn cấp yêu cầu phân đội quay về hậu cứ ngay lập tức.&lt;br /&gt;Vừa đến cầu tầu là đã thấy xe bít bùng chở hai ông bạn Mỹ thích phiêu lưu lên phi trường về nước ngay lập tức. Cũng vui là chuyện này chỉ xảy ra có một lần".&lt;br /&gt;Chúng tôi hy vọng những điều trình bày trên đây, dù còn rất nhiều thiếu sót, đã làm sáng tỏ phần nào một số sự thật liên quan đến Sở Phòng Vệ Duyên Hải và Lực Lượng Hải Tuần. Bài này cũng nhằm mục đích vinh danh và ghi ơn các chiến sĩ Biệt Kích Hải Quân đã nghe theo tiếng gọi của "Tổ Quốc Đại Dương", không ngại ngần xông pha ngoài biển Bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trần Đổ Cẫm&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2533462898413902860-794631160713228926?l=biethai.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://biethai.blogspot.com/feeds/794631160713228926/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/08/nguoi-ra-bien-bac.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/794631160713228926'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/794631160713228926'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/08/nguoi-ra-bien-bac.html' title='Sở Phòng Vệ Duyên Hải'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SoAzR5j9wXI/AAAAAAAAFqA/EP4Te4vYDQ8/s72-c/Bia-SPVDH-Color2.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2533462898413902860.post-2958318919890355787</id><published>2009-08-05T12:23:00.001-07:00</published><updated>2009-08-05T12:26:20.872-07:00</updated><title type='text'>Nhân 45 năm sự kiện Vịnh Bắc Bộ và tàu Maddox: CSVN ngày nay có hải chiến được như ngày xưa?</title><content type='html'>&lt;strong&gt;Nhân 45 năm sự kiện Vịnh Bắc Bộ và tàu Maddox: CSVN ngày nay có hải chiến được như ngày xưa?&lt;br /&gt;Tuesday, August 04, 2009  &lt;br /&gt; &lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnncpmC143I/AAAAAAAAFcg/jaRQX_vD4n0/s1600-h/99126-medium_Gulf_of_Tonkin_Battle.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 280px; height: 300px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnncpmC143I/AAAAAAAAFcg/jaRQX_vD4n0/s400/99126-medium_Gulf_of_Tonkin_Battle.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5366563038133871474" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Bản đồ hải chiến giữa khu trục hạm Maddox với 3 phóng lôi hạm Bắc Việt. (Hình: Theo Naval History Center)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hoàng Phố &amp; Ðinh Quát/Người Việt&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự kiện vịnh Bắc Bộ của đúng 45 năm trước đây, được nhà cầm quyền Việt Nam xem như chiến thắng hải chiến đầu tiên trong chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, nhìn lại sự kiện này, trong bối cảnh của vịnh Bắc Bộ và biển Ðông ngày hôm nay, một câu hỏi lớn cần đặt ra là: Liệu ngày hôm nay, nếu có một cuộc hải chiến nữa trên biển Ðông, Hải Quân của Quân Ðội Nhân Dân có đạt được mục tiêu của một “chiến thắng hải chiến đầu tiên” như xưa nữa không?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Báo Người Việt đặt câu hỏi này với ba nhân vật liên quan đến sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày trước: Cựu Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại, cựu Ðại Sứ Bùi Diễm, và một sĩ quan Hải Quân miền Bắc Việt Nam từng trực tiếp tham gia trận đánh tàu Maddox, cựu Ðại Tá Quách Hải Lượng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hải chiến - xưa&lt;br /&gt;Sự kiện Vịnh Bắc Bộ diễn ra năm 1964, khi tàu chiến USS Maddox của Hoa Kỳ bắn nhau với tàu chiến Bắc Việt, trong vùng hải phận quốc tế ngoài khơi Thanh Hóa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi sự kiện đó xảy ra, cựu Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại đang là thiếu tá tư lệnh Vùng II Duyên Hải, Bộ Tư Lệnh đặt tại Nha Trang. Ông kể lại với báo Người Việt:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Lúc bấy giờ tôi biết là Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa có dính líu đến vụ Maddox. Sau này, giữa năm 1966, khi được đưa ra làm chỉ huy trưởng Sở Phòng Vệ Duyên Hải, trách nhiệm về các công tác xâm nhập Bắc Việt bằng đường biển, tôi mới được xem các tài liệu và biết rằng, nội lệnh cho các chiến đĩnh của sở hoạt động Bắc vĩ-tuyến 17 rằng, nếu xẩy ra hải chiến với địch quân và có thương vong thì có thể đưa ra Ðệ thất Hạm đội của Hoa Kỳ để chữa trị”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông nói thêm, “Việc chiến hạm Maddox của Hoa Kỳ bị bắn là do chiến đĩnh của Hải Quân Bắc Việt nhầm lẫn với chiến đỉnh của Sở Phòng Vệ Duyên Hải Việt Nam Cộng Hòa bắn phá Hòn Mê ngoài khơi Thanh Hóa đêm hôm trước. Chi tiết ra sao tôi không nhớ rõ. Tài liệu của phía Hoa Kỳ được giải mật sau này cũng không nói rõ. Tôi có cảm tưởng vẫn còn nhiều sự kiện chưa được tiết lộ.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau vụ tàu chiến miền Bắc và tàu Maddox bắn nhau, người dân Hoa Kỳ đã xem đó là hành động khiêu khích, tấn công vào quân lực Mỹ, và Quốc Hội Mỹ đã phản ứng thật mạnh, bỏ phiếu cho phép tổng thống Mỹ trút quân vào Việt Nam, mở màn cho chiến sự lan rộng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cựu Ðại Sứ Bùi Diễm, khi đó đang làm báo Saigon Post, đã tình cờ có mặt ở thủ đô nước Mỹ khi sự kiện này xảy ra. Ông cho báo Người Việt biết: “Ðúng thời điểm đó, tôi được chứng kiến ngay tại Quốc Hội Mỹ, các vị dân cử đang họp nhằm thảo luận và biểu quyết bản nghị quyết nói về việc tầu chiến của Bắc Việt tấn công chiến hạm của Hoa Kỳ tại Vịnh Bắc Bộ. Lúc bấy giờ, Tổng Thống Johnson kêu gọi Quốc Hội thông qua bản nghị quyết để Hành Pháp toàn quyền hành động bằng quân sự đối với Bắc Việt. Kết quả biểu quyết tại Quốc Hội, 98 thượng nghị sĩ bỏ phiếu thuận, chỉ có hai phiếu chống. Hạ Viện, toàn thể 435 dân biểu bỏ phiếu tán thành bản nghị quyết, không một ai chống đối.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông miêu tả dư luận Hoa Kỳ khi đó: “Dư luận quần chúng Mỹ lúc bấy giờ nổi lên phong trào chống đối Cộng Sản tấn công tầu chiến của Hoa Kỳ. Báo chí Mỹ cũng cùng quan điểm và ủng hộ bản nghị quyết của Quốc Hội.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi đó, ngay trên Vịnh Bắc Bộ, cựu Ðại Tá Quách Hải Lượng đã có mặt và tham gia bắn nhau với tàu Maddox. Ông hiện đã về hưu và sống tại Hà Nội. Qua điện thoại, ông kể lại sự việc cho đặc phái viên báo Người Việt:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Thật ra ba tàu chiến của ta chỉ là những tàu rất kém được điều từ Thanh Hóa ra, ba cái tàu phóng lôi này nếu so với tàu Ma Ðốc của Mỹ thì làm sao so được. Tuy thế khi nghe tin tàu Ma Ðốc vào hải phận của mình thì do tinh thần hăng hái chứ bên trên không chỉ đạo cụ thể là đánh thế này hay đánh thế kia một cách gì cả. Trên chỉ cho biết nếu có lệnh mà địch đến thì mình đánh. Với tinh thần đấy thì hải quân thuộc vùng Thanh Hóa là nơi gần sự xuất hiện của tàu Mỹ cho ba tàu này ra chống trả. Thế nhưng chưa đến nơi thì tàu Mỹ nó đánh phủ đầu bằng những loạt đạn kinh lắm nhưng không biết sao anh em vẫn xông tới. Thử bắn mấy quả đều trượt cả.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông miêu tả thêm:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Tôi muốn vẽ ra một cảnh như thế này cho anh hiểu thêm. Thường thì trong các cuộc hải chiến, tàu bị tấn công cố gắng thu mình lại bằng cách đối điện trực tiếp với tàu địch càng thẳng bao nhiêu thì cơ thể của chiếc tàu mình càng nhỏ bấy nhiêu vì nếu nằm ngang với nó thì toàn thân tàu xuất hiện nguyên vẹn và làm bia tốt cho họ bắn, vì thế phải cố mũi đối mũi với tàu địch khi bị tấn công.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Trong lần này thì tàu của ta xoay xở thế nào đấy mà bắn thẳng vào sườn nó nhưng vẫn cứ trượt!,” vị cựu đại tá nói. “Cuối cùng thì một chiếc bị trúng ở mũi, đầu tàu của nó chúc xuống. Lúc ấy thì tàu của mình tiến gần khoảng mấy trăm mét thôi, hai bên binh lính nhìn nhau, buồn cười lắm... đánh nhau nó có cái lạ như thế. Hai bên bắn bừa vào nhau, mình bắn nó, nó bắn mình... cuối cùng thì mình rút về và có một cái tàu hỏng nằm gần đấy... lúc quay trở về thì máy bay nó đuổi ghê quá nhưng cũng may là thoát hiểm.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những cú bắn “buồn cười lắm” của cựu Ðại Tá Quách Hải Lượng, tuy nhiên, đã là bước ngoặt quan trọng trong cuộc chiến ở Việt Nam. Phản ứng của Quốc Hội Hoa Kỳ đã dẫn đến việc Hoa Kỳ leo thang đáng kể trong chiến cuộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại Sài Gòn, phản ứng của chính phủ Hoa Kỳ được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa hoan nghênh. Cựu Ðại Sứ Bùi Diễm cho biết: “Lúc bấy giờ dù ở Hoa Thịnh Ðốn, tôi vẫn liên lạc với Sài Gòn và ghi nhận rằng chính phủ rất vui mừng vì thấy chính phủ và dư luận Mỹ đã có thái độ quyết liệt đối với hành động khiêu khích của Bắc Việt. Khi tôi trở về Sài Gòn vào tuần lễ thứ nhì của Tháng Tám năm 1964, tôi thấy chính phủ đã biết là Hoa Kỳ chắc chắn sẽ can thiệp và giúp đỡ mạnh mẽ Việt Nam Cộng Hòa chống lại sự xâm lăng của Cộng Sản miền Bắc.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hải chiến - nay&lt;br /&gt;Bốn mươi lăm năm sau, Việt Nam đã tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm “chiến thắng trận hải chiến đầu tiên” này. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, trong những sự kiện đang liên tiếp xảy ra trong Vịnh Bắc Bộ và trên biển Ðông, liệu có hy vọng nhà cầm quyền Việt Nam lại có được một “chiến thắng hải chiến đầu tiên” nữa không?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cựu Ðại Tá Quách Hải Lượng cho biết về tình hình trang bị của hải quân trong nước: “Hiện nay đã khá hơn rồi nhưng thú thật rằng vẫn không thể gọi là hiện đại được, ta đã có tàu phóng lôi, có tàu tên lửa. Ðã có tàu ngầm, tàu săn ngầm và một số tàu khác.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông cho rằng Hải Quân Việt Nam ngang tầm Indonesia và Singapore, “tuy các loại tàu này chưa phải là thế hệ mới nhất.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðược hỏi ý kiến so sánh tương quan lực lượng giữa Việt Nam trong nước với nước láng giềng Trung Quốc, cựu Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại bi quan:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Trong tình hình hiện nay, nếu xẩy ra một trận hải chiến giữa Hải Quân của Cộng Sản Việt Nam và Hải Quân của Cộng Sản Trung Quốc, theo nhận định của tôi, phía Việt Nam chỉ có thể cầm cự một thời gian ngắn chứ không thể chiến thắng được, vì lực lượng đôi bên quá chênh lệch”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cựu Ðại Tá Quách Hải Lượng cũng thừa nhận lực lượng quá chênh lệch so với Trung Quốc. Ông miêu tả tình hình hải quân miền Bắc trong chiến tranh:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Tôi nói thật một điều là Mỹ đã diệt hầu hết Hải Quân của mình! Họ tiến vào các dòng sông tận sát trên Trường Sơn chứ không riêng gì ở biển. Lúc bấy giờ Hải Quân của mình kiệt quệ đến mức ghê gớm, mãi cho đến sau năm 1973 thì ta phục hồi lại và mua tàu ở các nơi về và cũng có sự giúp đỡ của nhiều nơi nhưng nhìn chung thì tất cả các tàu này đều kém, đã sản xuất từ Ðại Chiến Thứ Hai chứ chưa phải là tàu hiện đại thật sự. Cho đến năm 1975 thì lực lượng mình khá lên một ít rồi, nhưng vẫn không thể nói là hiện đại.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, ông khẳng định vũ khí hiện đại chưa hẳn quyết định thắng thua. Ông nói về vụ bắn nhau với tàu Maddox:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Chỉ có tinh thần thôi, anh em cứ thấy giặc tới là đánh thôi chứ không có cách nào khác. Cái ý chí của anh em làm nên chiến thắng. Tinh thần yêu nước của anh em khiến họ không sợ chết chứ không phải cấp trên chỉ đạo giỏi hay chiến thuật chiến lược gì ghê gớm cả.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng với ý đó, được hỏi “giả sự có một cuộc hải chiến với Trung Quốc,” ông nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Tôi chắc chắn rằng cho dù Trung Quốc có hùng hậu tới đâu thì cũng bằng Mỹ là cùng, và tinh thần chiến đấu của dân tộc ta mới đáng nói. Từ nhiều ngàn năm trước chứ đâu phải đến bây giờ. Trung Quốc cũng biết điều này và họ không dại gì phát động một cuộc chiến mà họ chưa chắc nắm phần thắng. Tinh thần chiến đấu chứ không phải vũ khí làm nên chiến thắng đâu.”&lt;br /&gt; &lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2533462898413902860-2958318919890355787?l=biethai.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://biethai.blogspot.com/feeds/2958318919890355787/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/08/nhan-45-nam-su-kien-vinh-bac-bo-va-tau.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/2958318919890355787'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/2958318919890355787'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/08/nhan-45-nam-su-kien-vinh-bac-bo-va-tau.html' title='Nhân 45 năm sự kiện Vịnh Bắc Bộ và tàu Maddox: CSVN ngày nay có hải chiến được như ngày xưa?'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnncpmC143I/AAAAAAAAFcg/jaRQX_vD4n0/s72-c/99126-medium_Gulf_of_Tonkin_Battle.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2533462898413902860.post-6254927055841466468</id><published>2009-07-28T23:02:00.000-07:00</published><updated>2009-07-30T14:00:31.273-07:00</updated><title type='text'>Hồi tưởng Chuyến giải cứu phi công Hoa Kỳ lần thứ III (Bài cuối)</title><content type='html'>&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnII5G_z6uI/AAAAAAAAFV8/AkFwne3hXMc/s1600-h/Bh_vn_11.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 285px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnII5G_z6uI/AAAAAAAAFV8/AkFwne3hXMc/s400/Bh_vn_11.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5364359883375504098" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Phong Trần&lt;br /&gt;Thursday, July 26, 2007&lt;br /&gt;Hồi tưởng Chuyến giải cứu phi công Hoa Kỳ lần thứ III, tại Quốc Lộ 9, Quảng Trị, Tháng Tư, 1972 (Mùa Hè Ðỏ Lửa)&lt;br /&gt;(Ðể tưởng nhớ về các chiến hữu đang sống lây lất cùng cực trên quê hương thân yêu)&lt;br /&gt;LTG.- Thời gian đã trôi qua trên ba mươi năm nên trí nhớ phần nào mai một theo tuổi tác. Bài hồi ký được viết bằng trí nhớ và với chứng kiến của một số bạn bè trong một cuộc góp ý. Ngoài cố vấn Tom Norris UDT Seal ra, các nhân viên toán Biệt Hải tham dự trong chuyến “BAT- 21” hiện tất cả còn sống: Một ở Việt Nam, một ở Úc Châu và ba tại Hoa Kỳ, kể cả tác giả. Tuy nhiên, vấn đề thời gian trong các đoạn viết không được chính xác lắm, mong các bạn tham gia trong chuyến sẵn lòng tha thứ và giúp bổ khuyết. Chúng tôi hi vọng các chiến hữu đại đội thuộc Sư Ðoàn 3 Bộ Binh ở tiền đồn, những người đã góp phần và chứng kiến công tác Biệt Hải giải cứu phi công Hoa Kỳ tại sông Hiếu Giang thuộc cực Bắc Cam Lộ, Quảng Trị Tháng Tư năm 1972 sẽ đọc được bài này. Và không quên cám ơn huynh trưởng Trần Ðỗ Cẩm giúp cung cấp một số tài liệu để nội dung phong phú, chính xác hơn.&lt;br /&gt;Phong Trần&lt;br /&gt;(Tiếp theo)&lt;br /&gt;Ðêm nay cả vùng Cam Lộ tối đen như đêm 30 Tết. Không gian hết sức tĩnh lặng. Những đọt cây lớn nhỏ đều đứng yên bất động. Bầu trời không một gợn mây. Vài ngôi sao lưa thưa xuất hiện chiếu ánh sáng li ti như đom đóm lạc loài trong đêm, chứng tỏ thời tiết miền Trung sắp sửa bước sang Mùa Hè oi bức càng làm cảnh vật trong vùng cô tịch một cách đáng ngại chỉ trừ hơi thở đều đặn người phụ tiền sát đang nằm kế cận, hòa lẫn tiếng nước róc rách do dòng thủy triều ồ ạt chảy ra hướng Cửa Việt.&lt;br /&gt;Bất chợt phía trên chính giữa dòng sông tôi phát giác một vật đen lờ mờ xuất hiện, bập bềnh theo dòng nước trôi xuống rất nhanh mỗi lúc càng gần. Ít phút sau đã nhìn được hình thể chiều dài của vật đen khá rõ rệt vụt ngang qua chỗ hai đứa. Sở dĩ trông thấy trước vì hai tiền sát đi đầu hiện nằm vị trí phía trong cùng. và nghe tiếng thở phì phào rất rõ như tiếng trâu bò lội dưới nước ban đêm phát xuất từ vật đen. Quá khả nghi, tôi khều Tất ra hiệu hãy bò thật nhanh thông báo cho trưởng toán Thọ biết để ông kịp thời quyết định. Ít phút sau ở đầu kia đã nghe tiếng sột soạt của Tom Norris đang xỏ chân nhái phóng xuống dòng sông lội theo. Khoảng hai mươi phút sau chúng tôi thấy ông lội trở lại vị trí của toán. Có lẽ dòng nước đang đà chảy mạnh xô đẩy vật đen trôi xa làm Tom Norris không tài nào theo kịp.&lt;br /&gt;Tất cả sự việc xảy quá đột ngột khoảng khắc ngắn ngủi nên anh em trong toán chẳng ai kịp hành động. Hơn nữa đây lần đầu tiên toán Biệt Hải được tham dự công tác vớt người kiểu nầy. Dù vậy cả toán vẫn nằm án binh bất động đợi lệnh.&lt;br /&gt;Tuy không nói ra nhưng thâm tâm mọi người nhất là phần tôi vẫn đinh ninh lúc nãy vật đen, có thể là một trong số phi công đã theo dòng nước trôi ra nhưng không may vuột khỏi tầm tay của toán đang bỏ công chờ đợi. Xem như cơ hội hiếm hoi bị mất. Cùng lúc nghe tiếng đối thoại giữa Tom Norris và Trung Tá Anderson trực máy tại tiền đồn lô cốt. Có lẽ hai người hiện đang đề cập những diễn biến bất thường vừa xảy ra.&lt;br /&gt;Từ khi phát hiện vật đen đã ba mươi phút trôi qua, chúng tôi có lệnh rút lui. Liếc nhìn đồng hồ dạ quang điểm chỉ hơn hai giờ sáng. Trên đường rút ra toán vẫn giữ nguyên đội hình di chuyển theo lộ trình lúc khi đi vào. Ðặc biệt lần nầy mọi người hết sức cẩn thận đề phòng nhất là những chỗ nghi ngờ có địch. Ðiều làm mọi người nơm nớp lo sợ là bầu trời quanh vùng tối đen cộng với cây cối dầy đặc, lỡ mà lọt điểm phục kích của địch chắc chắn không một ai có thể sống sót.&lt;br /&gt;Theo nguồn tin đồng bào tị nạn cho biết hiện bộ đội Bắc Việt tung rất nhiều toán, lục kiếm gắt gao tìm bắt các phi công Hoa Kỳ đang ẩn trốn. Phần tôi từ khi phát giác vật đen và nghe tiếng thở phì phào như người, trong đầu ám ảnh và tự hỏi không biết vật đó vật gì phải người hay không? Nên bụi cây nào sắp sửa ngang qua, tôi đều chú tâm quan sát rất kĩ tuy biết niềm hi vọng hết sức mong manh.&lt;br /&gt;Kể từ khi nhận lệnh rút lui khỏi điểm kích đến giờ toán đã di chuyển được hơn một tiếng đồng hồ. Thoạt nhiên đằng trước mặt tôi phát giác một bụi cây đứng một mình riêng rẽ sát dưới mé nước chỉ cách chỗ tôi từ tám đến mười thước. Cả thân cây rung lên nhè nhẹ từng hồi tựa như đang bị gió thổi, khiến mặt nước quanh đó giao động, ngược với những bụi cây kế cận vẫn đứng yên không hề nhúc nhích đã khiến tôi giật mình hoảng sợ. Ðiều lạ lùng hơn nữa hiện thời tiết oi bức, chung quanh không một luồng gió. Với phản xạ tôi ra dấu cho Tất và cả hai vội vàng nằm xuống nấp sau mô đất. Cùng lúc Tất chuyển tín hiệu về sau để mọi người kế tiếp kịp thời dừng lại đề phòng bất trắc.&lt;br /&gt;Trở lại bụi cây bất ngờ đã được phát giác lúc nãy hai đứa tôi nằm im lìm chờ đợi cố để mắt theo dõi động tĩnh. Mười phút trôi qua mang theo âu lo hồi hộp nhưng những bụi cây kế cận vẫn đứng yên bất động. Duy điểm bụi cây phát giác vẫn từng hồi lay động. Thấy vậy tôi kề tai nói khẽ với Tất: - Hãy chú ý theo dõi và yểm trợ nếu cần. Tao bò đến mục tiêu tìm cách xác định vị trí khả nghi, không thể để toán nằm chờ đây mãi vì bầu trời sắp sáng đến nơi.&lt;br /&gt;Cùng lúc tôi xoay nòng súng AK.47 nhắm thẳng hướng mục tiêu, ngón trỏ sẵn sàng lảy cò nếu tình hình ở điểm khả nghi đột biến. Khi khoảng cách hai bên thâu ngắn bỗng thấy cả bụi cây trở nên rung mạnh. Ðồng thời nghe giọng nói yếu ớt từ dưới góc cây vọng ra hai tiếng “No, No” đã giúp tôi mau chóng nhận định không còn nghi ngờ gì nữa, chính đó là viên phi công Hoa Kỳ mà toán chúng tôi đã suốt đêm bất chấp hiểm nguy tìm kiếm. Ông ta đứng ôm chặt gốc cây cách tôi ước khoảng năm mét. Trên đỉnh đầu ông trông lờ mờ hình như đang phủ một miếng vải ngụy trang. Ngược lại người phi công Hoa Kỳ chắc chắn thấy hai đứa tôi và tưởng toán bộ đội cộng sản săn lùng tìm kiếm được ông, cộng thêm đói khát trong thời gian lẩn trốn khiến tinh thần ông sa sút hoảng sợ.&lt;br /&gt;Còn hai tiền sát chúng tôi khi đã xác định chắc chắn mục tiêu, tôi nằm lại tại chỗ quan sát theo dõi vì sợ người phi công hốt hoảng buông gốc cây, lội theo dòng nước biến mất như trước đây hay do bản năng tự vệ dùng súng lục bắn chúng tôi thì hỏng mọi chuyện. Biết thế tôi ra hiệu bảo Tất tìm cách bò nhanh phía sau trình trưởng toán biết gấp sự việc. Mấy phút sau trưởng toán Thọ và Tom Norris, cả hai tiến lên. Tôi chỉ ngay bụi cây nơi viên phi công đang đứng. Khi xác định vị trí Tom Norris bò tới cách người phi công mấy thước nói vọng vào (có thể mật khẩu nhận nhau). Bất ngờ từ trong bụi cây thấy người phi công trườn ra cùng lúc rồi cả hai quỳ xuống ôm lấy nhau, tưởng như đôi bạn xa cách lâu ngày bỗng dưng gặp lại vui mừng khôn xiết.&lt;br /&gt;Trong phút giây nghẹn ngào vui sướng chúng tôi nghe tiếng của người phi công thì thào trong miệng “Thank !Thank !”. Mọi người gần đó hết sức phấn khởi. Suốt mười ngày đêm ông ta đã bị bộ đội cộng sản truy bức đói khát tưởng chừng sớm muộn bị bắt. Không ngờ đêm nay được toán Biệt Hải cứu sống, lại có sự tham dự của Tom Norris là chiến hữu ông. Không niềm vui nào người phi công có thể đem ra so sánh đối với hai chữ Tự Do. Riêng toán Biệt Hải chúng tôi thì đây là phần thưởng tinh thần vô giá và xem như toán đã hoàn thành chuyến công tác đêm đầu càng gây hi vọng chuyến công tác kế tiếp. Trưởng toán vội bảo anh em cấp tốc rời khỏi chỗ này càng sớm càng tốt vì quanh đây còn trong phạm vi đóng quân các sư đoàn Bắc Việt. Tất cả không chần chờ lẹ làng thận trọng di chuyển và hết sức cẩn thận bảo vệ người phi công tới chỗ an toàn.&lt;br /&gt;Ngày 11 Tháng Tư năm 1972 lúc 7 giờ sáng, toán Biệt Hải dìu được người phi công Hoa Kỳ về dưới triền đồi Lô Cốt. Vùng đất nầy tương đối an toàn thuộc quyền kiểm soát đơn vị trấn đóng. Chúng tôi nhìn thấy sức khỏe của người phi công hiện quá bết bát không thể ông tự di chuyển một mình trèo lên dốc đồi nên anh em kẻ trước người sau thay phiên cõng ông trên lưng, nhắm hướng về phía tiền đồn vừa đi vừa chạy vì sợ Cộng Sản trông thấy thì chúng gọi pháo kích.&lt;br /&gt;Khi cả toán đặt chân trên phần đất Lô Cốt ai nấy đều thấm mệt vì suốt đêm qua thức trắng và căng thẳng. Ðơn vị trong đồn mở cổng chạy ra phụ dìu người phi công vào phía trong đồn. Vài nhân viên Biệt Hải nhanh trí lấy những gói cà phê trong các hộp “Ration C” đem khuấy nước nóng đưa mời người phi công Hoa Kỳ uống. Tiếp nhận ly cà phê trên tay mọi người bỗng thấy trên hai khóe mắt của ông đỏ hoe rồi hai dòng lệ lăn dài. Có nằm trong hoàn cảnh nầy mới hiểu thấu được tình chiến hữu đồng đội bất phân chủng tộc hết sức thắm thiết.&lt;br /&gt;Mười giờ sáng cùng ngày một chiếc thiết vận M-113 không biết từ đâu xuất hiện chạy đến đậu sẵn phía sau Lô Cốt, làm phương tiện để chở người phi công Hoa Kỳ trở về hậu cứ. Khi chiếc M-113 và người phi công thật sự rời khỏi Lô Cốt mọi người mở ba lô lấy khẩu phần lương khô “Ration C” ăn uống qua loa. Ai nấy vội tìm chỗ nằm để giấc ngủ lấy sức tiếp tục chuyến công tác tối nay.&lt;br /&gt;Phần tôi sau khi xong xuôi tìm một chỗ phía trong Lô Cốt nằm xuống định ngủ một giấc cho lại sức. Nhưng thời gian kéo dài mấy tiếng đồng hồ nhưng không tài nào chợp mắt được. Tất cả hình ảnh đêm qua vẫn chập chờn hiện về trong tâm trí khiến thân thể trở nên bải hoải mỏi mệt lạ thường. Khoảng 2 giờ 30 chiều bỗng có nhiều tiếng nổ chát chúa khắp quanh vòng đai Lô Cốt. Một vài trái rớt xuống trúng trên miệng hầm nổi hướng nam . Bắc quân đóng bên kia các ngọn đồi pháo tới làm Lô Cốt rung chuyển liên hồi như thể động đất sau mỗi đợt nổ.&lt;br /&gt;Lúc ấy mọi người đang nằm phía trong vội vàng ngồi dậy xách súng đạn nhắm ngay cửa chính của tiền đồn phóng chạy ra ngoài, định nhảy xuống bất cứ căn hầm phòng thủ nào gần nhất để trợ lực cùng anh em bộ binh chiến đấu. Toán Biệt Hải chỉ tạm trú vài ngày nên không có lệnh đào hầm. Mọi người lo ngại Cộng Sản kéo tới ban ngày mở đợt tấn công nhưng chưa kịp thi hành thì thấy mấy người lính bộ binh dìu Trung Tá Andy Anderson và trưởng toán Thọ từ ngoài lật đật đưa vào phía trong Lô Cốt. Thấy vậy chúng tôi đứng lại tìm băng cá nhân buộc vào vết thương để cầm máu cho hai người. Tom Norris mở máy vô tuyến liên lạc về Bộ Chỉ Huy xin phương tiện di tản thương binh .&lt;br /&gt;Theo một số anh em trong đồn cho biết khoảng hai giờ chiều họ trông thấy hai người đứng trên miệng hầm phòng thủ trên tay cầm ống nhòm quan sát địa thế. Có thể bọn quan sát của chúng đã trông thấy nên gọi pháo kích bắn.&lt;br /&gt;Bốn giờ chiều hôm đó một chiếc thiết giáp M-113 khác tiếp tục chạy tới di chuyển thương binh trong số có trưởng toán Biệt Hải. Thể theo đề nghị của Ðại Úy Thọ muốn Châu cùng đi trên chiếc M-113 để giúp săn sóc. Như vậy tối nay toán mất thêm hai nhân viên công tác và Trung Tá Anderson trực máy liên lạc, tất cả ba người. Hiện còn lại bốn người gồm: ba nhân viên Biệt Hải và Tom Norris (UDT Seal). Không ngờ diễn biến xảy ra đột ngột chiều nay làm hoàn toàn thay đổi chương trình công tác như đã dự tính. Riêng tôi cảm thấy phân vân, lo lắng vì hình ảnh các đoàn xe Molotova và T54 - T72 của đối phương ngày đêm di chuyển trong vùng. Chưa kể những trận pháo kích đã phần nào ảnh hưởng về mặt tâm lý.&lt;br /&gt;Tối nay toán còn lại bốn người. Chúng tôi tiếp tục nhận lệnh đi giải cứu Trung Tá Hambleton. Nghe nói ông nầy bị thương khá nặng đang trốn sâu trong vùng địch kiểm soát suốt mười một ngày qua. Sức khỏe ông rất bết bát nên không thể di chuyển. Tối nay toán phải tìm cách đi vào gần nơi của ông đang ẩn trốn và đêm nay Ðại Úy Tom Norris sẽ thay thế Ðại Úy Thọ làm trưởng toán. Nghe tin tôi và Tất làm tiền sát tối nay, cả hai phân vân vấn đề trở ngại ngôn ngữ chẳng may chạm địch trên đường di chuyển không biết liên lạc ra sao?&lt;br /&gt;Ngày 11 Tháng Tư năm 1972, Tom Norris cho toán khởi hành có phần sớm hơn lần trước. Lúc gần 7 giờ tối bầu trời bên ngoài vừa nhá nhem mọi người được lệnh sẵn sàng rời khỏi tiền đồn. Ðội hình di chuyển đêm nay vẫn không thay đổi, số nhân viên chỉ có bốn người :Tiền sát đi đầu là tôi, Tất, đến Tom Norris và K. hậu vệ. Lộ trình di hành từ điểm lô cốt xuống bờ sông đêm nay có phần thay đổi. Vì tránh mìn bẫy nên tôi tìm cách đi lệch cách hướng đường mòn cũ tối qua từ 30 đến 40 mét. Tôi nghĩ biết đâu chúng đã để ý theo dõi sự di chuyển lên xuống tiền đồn của toán và tìm cách lén gài mìn bẫy.&lt;br /&gt;Ðêm nầy cũng như chuyến trước, sau mấy giờ lần theo đường bờ sông di chuyển chúng tôi tới được điểm hẹn vào lúc 11 giờ đêm. Trước khi khởi hành chúng tôi nghe K. chuyển lời Tom Norris cho biết, tối nay phi công Hambleton sẽ theo dòng nước trôi ra tương tự như viên phi công Mark Clack đêm qua. Rút kinh nghiệm của chuyến vừa rồi lần nầy ai nấy đều hết sức cẩn trọng, chú ý nhiều hơn. Từ khi đặt chân tới điểm hẹn nằm lại chờ đợi cho đến giờ này, thời gian gần hai giờ trôi qua nhưng vẫn không thấy Hambleton trôi tới theo dòng nước như đã cho biết, mặc dầu hiện giờ dòng thủy triều đang chảy khá mạnh. Bỗng K. chuyển lời Tom Norris cho biết rằng Hambleton không thể rời xa vị trí ẩn núp vì vết thương ông ta quá nặng đồng thời ra hiệu mọi người rút lui. Cả toán vội theo hướng cũ trở ngược ra. Chúng tôi về đến ngoài vòng đai tiền đồn Lô Cốt gần bốn giờ sáng.&lt;br /&gt;Từ lúc đó tôi và Tất không còn thấy Tom Norris và K. đi ngang cho biết họ sẽ ngược lại bờ sông Hiếu Giang tìm ghe để làm phương tiện, tôi và Tất vẫn ở tiền đồn đợi lệnh.&lt;br /&gt;Ngày 14 Tháng Tư năm 1972 lúc 7 giờ 30 sáng, mọi người hiện diện trên Lô Cốt nghe tiếng gầm thét của rất nhiều máy bay phản lực từ hướng biển bay vào giội bom xối xả và thả khói mù xuống dọc hai bên bờ Hiếu Giang. Khoảng 10 giờ sáng thấy K. từ ngoài hối hả vào gọi chúng tôi xuống bờ sông phụ giúp cõng Trung Tá Hambleton lên. Lúc gặp thấy thân hình tương đối khá cao và gầy, một chân ông bị thương, phần da thịt chung quanh đã nhầy nhụa trở thành màu tím. Lý do thời gian khá lâu thiếu thuốc men chữa trị.&lt;br /&gt;Như đã viết ở trên, từ mé bờ sông ngược lên hướng Lô Cốt đường khá dốc nên ba chúng tôi thay phiên cõng ông trên vai, cố tìm cách nâng hẳn hai chân khỏi mặt đất, tương tự như Mack Clack hôm trước. Khi đặt ông nằm xuống bên trong Lô Cốt, quần áo chúng tôi ướt đẫm, một phần do ánh nắng gay gắt buổi sáng đầu ngày.&lt;br /&gt;Khoảng ba hoặc bốn giờ chiều hôm ấy toán Biệt Hải tất cả bốn người được lệnh rời khỏi tiền đồn bằng chiếc M-113 trở về lại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương ở Quảng Trị. Trước khi vào Bộ Tư Lệnh, chúng tôi ngồi chờ phương tiện trở về Ðà Nẵng được một số phóng viên báo chí phỏng vấn, chụp hình... Sau đó gặp một số chiến hữu khác, họ rất ngạc nhiên khi biết toán Biệt Hải thành công. Lý do trước đây mấy ngày chính họ không mấy tin tưởng anh em chúng tôi hoàn thành công tác khó khăn nguy hiểm này.&lt;br /&gt;Từ lúc nhận lệnh thi hành công tác giải cứu các phi công Hoa Kỳ lâm nạn trên sông Hiếu Giang, Cam Lộ theo quốc lộ 9 của tỉnh Quảng Trị giữa Tháng Tư năm 1972, sau Mùa Hè Ðỏ Lửa đến nay thấm thoát thời gian trôi qua đã trên ba mươi năm. Cá nhân tôi cũng như anh em trong toán Biệt Hải tham dự đều không bao giờ nghĩ tới hoặc chú tâm tìm hiểu tên tuổi những phi công Hoa Kỳ mà anh em góp phần tham dự giải cứu. Tự nghĩ đây là nhiệm vụ người lính QLVNCH có bổn phận giúp đỡ người bạn đồng minh Hoa Kỳ đang góp phần để bảo vệ quê hương miền Nam tự do khỏi rơi vào ách thống trị Cộng Sản chẳng may gặp nạn. Hơn nữa nơi đây là tiền đồn “Thế Giới Tự Do” như một số nhân vật tên tuổi Việt và Mỹ từng một thời đề cập.&lt;br /&gt;Mục đích viết bài này muốn nói lên những điều trông thấy, hầu làm sáng tỏ phần nào chuyến công tác bí mật “BAT-21”. Ngoài ra không mang hoài vọng nào khác ngoài hai chữ “âm thầm, phục vụ” được mọi chiến hữu Sở Phòng Vệ Duyên Hải hằng tâm niệm ôm ấp như những ngày còn trong cuộc chiến trước năm 1975.&lt;br /&gt;“Lời cuối chúng tôi xin thay anh em tác giả chân thành cám ơn hai hạm trưởng Nguyễn Mạnh Trí, Trần Ðỗ Cẩm, nhà văn Lê Nhật Thăng, thế hệ II Bùi Thượng Khuê và quí thân hữu sửa chữa, cung cấp hình ảnh giúp cuốn Ðặc San Biệt Hải được hoàn thành trong dịp lễ giỗ kỳ V các anh linh, tử sĩ Biệt Hải, SPVDH/NKT”.&lt;br /&gt;Phong Trần&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2533462898413902860-6254927055841466468?l=biethai.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://biethai.blogspot.com/feeds/6254927055841466468/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/hoi-tuong-chuyen-giai-cuu-phi-cong-hoa.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/6254927055841466468'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/6254927055841466468'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/hoi-tuong-chuyen-giai-cuu-phi-cong-hoa.html' title='Hồi tưởng Chuyến giải cứu phi công Hoa Kỳ lần thứ III (Bài cuối)'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnII5G_z6uI/AAAAAAAAFV8/AkFwne3hXMc/s72-c/Bh_vn_11.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2533462898413902860.post-7114342883191590575</id><published>2009-07-28T23:00:00.000-07:00</published><updated>2009-07-30T14:05:12.493-07:00</updated><title type='text'>Những trích đoạn của "Can Trường Trong Chiến Bại"</title><content type='html'>&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnII9x25UlI/AAAAAAAAFWE/FP-uc5Iks9Y/s1600-h/50852402.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5364359963600310866" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 400px; CURSOR: hand; HEIGHT: 258px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnII9x25UlI/AAAAAAAAFWE/FP-uc5Iks9Y/s400/50852402.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#cc0000;"&gt;&lt;em&gt;LTS. - “Can Trường Trong Chiến Bại,” do Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại chấp bút, ghi lại cuộc đời binh nghiệp của mình. Sách được xuất bản lần đầu vào tháng Ba, 2007, và được tái bản (có bổ sung) tháng Năm, 2007. Dưới đây là một vài trích đoạn trong “Can Trường Trong Chiến Bại,” do chính tác giả cung cấp. Độc giả có thể đặt mua sách tại website http://www.hovanky.com/autobiography.&lt;br /&gt;TRÍCH LỜI MỞ ĐẦU&lt;br /&gt;... Một tấm bảng gỗ có viết một câu để vinh danh người lính cứu hỏa. Tôi rất cảm xúc khi đọc và nghĩ ngay tới người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa nói chung và các thủy thủ và Biệt Hải nói riêng: “Let me win, if I cannot win, let me be brave in the attempt!” Xin tạm dịch: “Xin cho tôi chiến thắng, nếu tôi không thể thắng, xin cho tôi can trường trong nổ lực của tôi.”&lt;br /&gt;Đọc xong câu trên tôi nghĩ lại tại sao chúng ta tiếp tục tự dày vò chúng ta với sự chiến bại mà không hãnh diện về sự can trường của biết bao anh hùng thuộc các quân binh chủng?&lt;br /&gt;VỀ VIỆC ĐẠI TÁ HỒ TẤN QUYỀN BỊ ÁM HẠI:&lt;br /&gt;Ông Lực thuật cho tôi nghe những gì xảy ra từ khi ông gặp tôi lần chót ở sân quần vợt Hải Quân, đặc biệt là việc ông dụ Đại tá Quyền đi theo ông lên xa lộ Biên Hòa rồi đến vườn cao su ở Thủ Đức, với ý định áp đảo và bắt ông Quyền. Ông có đem theo một quả chanh định trói ông Quyền và nhét chanh vào miệng ông Quyền. Ông kể việc ông cầm dao như thế nào và ông Quyền chống cự lại như thế nào, mặc dù trên xe còn có một sĩ quan khác phụ ông. Ông Quyền cưởng lại nên mới bị bắn. Để dẫn chứng ông Lực chỉ bàn tay mặt của ông. Lúc bấy giờ tôi mới thấy là tay mặt ông bị băng trắng hết chỉ ló mấy ngón tay.&lt;br /&gt;CÔNG TÁC TẠI HÒN CỌP:&lt;br /&gt;... Vượt qua vĩ tuyến 17, các chiến đỉnh bao giờ cũng tắt đèn. Trên đảo thì mọi sự đều tối thui. Một màn yên lặng bao trùm các chiến đỉnh và trên đảo.&lt;br /&gt;Bất thình lình, toán Biệt Hải báo cáo bị lộ khi vào gần đến trung tâm đảo phải mở đường máu để thoát ra bờ biển. Toán Biệt Hải đã trễ gần hai tiếng đồng hồ và đã đến giờ ấn định bởi lệnh hành quân cho chiến đỉnh rời vùng vì trời sắp sáng, trung úy Phúc, tuy không phải nhiệm vụ của anh nhưng anh xin đề nghị và tình nguyện xuống một xuồng cao su với một vài thủy thủ đem theo đèn cầm tay để tìm và hướng dẫn các xuồng Biệt Hải ra tàu. Tôi và hạm trưởng của anh đồng ý và rất thán phục hành động can trường của trung úy Phúc. Tôi đưa cho anh mượn khẩu súng lục nhỏ để xử dụng khi cần. Cuối cùng anh đã tìm thấy và hướng dẫn các xuồng Biệt Hải về tàu an toàn.&lt;br /&gt;CHỈ THỊ CỦA TỔNG THỐNG THIỆU VỀ BẢO VỆ HOÀNG SA:&lt;br /&gt;Sau khi trao thủ bút cho tôi, Tổng Thống Thiệu hỏi các vị tướng lãnh bộ binh hiện diện có ý kiến gì không. Không ai trả lời. Ông nói tiếp: “Chúng ta không để mất một tất đất nào cả.”&lt;br /&gt;TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA:&lt;br /&gt;Về phía tàu Trung Cộng thì một chiến hạm bị bốc cháy và khi bỏ chạy bị rướng lên đá san hô. Về phần Hải Quân Việt Nam thì chiến hộ tống hạm Nhựt Tảo bị trúng đạn ngay đài chỉ huy. Hạm trưởng bị tử thương và chiến hạm đang bốc cháy. Chiếc Lý Thường Kiệt cũng bị trúng đạn hải pháo, nước vào rất nhiều và chiến hạm bắt đầu nghiên một bên. Đại tá Ngạc cho biết tình trạng chiếc Nhựt Tảo rất nguy ngập. Tôi chỉ thị nếu có thể được thì cho chiếc nầy chạy thẳng và ủi vào bờ để ít nhứt để xác tàu là một chứng cớ chúng ta quyết tâm bảo vệ hải đảo. Tại chỗ chiếc Nhựt Tảo chìm thì một số thủy thủ đang lềnh bềnh trên mặt nước, người thì đeo phao, người thì bám vào tất cả những gì đang nổi trên mặt nước. Dã man nhứt là khi một số thủy thủ thuộc chiến hạm Nhựt Tảo đa số bị thương, bị tàu Trung Cộng bất chấp quy lệ về hải chiến tiếp tục bắn xối xả vào các chiếc bè, rất may chỉ có một nhân viên bị thương nhờ tất cả nằm sát xuống bè để tránh đạn. Tôi điện thoại về Bộ Tư Lịnh Hải Quân tại Sài Gòn để xin cố vấn Hoa Kỳ can thiệp với Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ đến nơi để cứu vớt các thủy thủ Việt Nam đang bị nạn. Mãi đến mấy ngày sau, chiến hạm Mỹ vẫn không đến mặc dù các thủy thủ đang trôi trên biển trong hải phận quốc tế. Điều đó cho thấy là họ không muốn tham dự vào vụ tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Cộng và hơn thế nữa họ cũng không một hành động gì dù là một hành động nhân đạo.&lt;br /&gt;CHIẾN ĐẤU ĐƠN ĐỘC NHƯNG CAN TRƯỜNG:&lt;br /&gt;Sự hy sinh của các thủy thủ can trường vẫn còn là một bằng chứng bằng xương bằng máu để con cháu chúng ta tranh đấu trước tòa án quốc tế để đòi hỏi Trung Cộng phải giao trả các đảo này cho Việt Nam.&lt;br /&gt;Ai là người Việt Nam có quyền hãnh diện là trận hải chiến Hoàng Sa là một trận hải chiến duy nhất của Việt Nam và của thế kỷ, chống ngoại xâm, và bảy thế kỷ sau khi tướng Trần Hưng Đạo đánh bại quân Mông Cổ từ phương Bắc, trên mặt nước.&lt;br /&gt;Còn những ai nghĩ là Việt Nam Cộng Hòa còn lệ thuộc Mỹ phần nào thì đây là bằng chứng rõ rệt là việc tấn công lực lượng Trung Cộng là hoàn toàn do tổng thống Nguyễn văn Thiệu ra lịnh, không có sự đồng ý của Hoa Kỳ và không có sự giúp đỡ của Hoa Kỳ dù là nhân đạo tối thiểu như vớt người trôi trên biển cả.&lt;br /&gt;Hải đội Việt Nam Cộng Hòa nổ súng chỉ là một hành động “tượng trưng nhưng cứng rắn” để chứng tỏ sự bảo vệ chủ quyền các đảo Hoàng Sa chớ không có mục tiêu hủy diệt hải đội của Trung Cộng.&lt;br /&gt;Tổng thống Thiệu bị ở trong thế “chẳng đặng đừng.” Không phản ứng gì hết thì lịch sử sẽ kết tội hèn nhát mà đụng dộ với hải quân của một cường quốc như Trung Cộng thời bấy giờ là một quyết định táo bạo và can trường.&lt;br /&gt;... Tinh thần yêu nước không cần được biểu lộ bằng những lời tuyên bố mát tai của những chính trị gia mà được biểu lộ một cách cảm động và hùng hồn nhất, bởi những thủy thủ của toán đổ bộ của tuần dương hạm Lý Thường Kiệt vào lúc 10 giờ 30 sáng ngày 19 tháng giêng năm 1974 tại Hoàng Sa trên xuồng cao su, khi mười lăm chiến sĩ Hải Quân can trường đồng ca bài “Việt Nam, Việt Nam” khi thấy chiến hạm Trung Cộng bị trúng đạn của chiến hạm Việt Nam. Bài hát này cũng là bài hát cuối cùng của hạ sĩ Nguyễn Văn Duyên vì sau mười ngày trên biển cả, ngày thì nóng cháy da, đêm thì lạnh thấu xương, hết lương thực, hết nước uống, đuối sức, anh Duyên đã trút hơi thở cuối cùng khi trôi dạt về tới Qui Nhơn.&lt;br /&gt;ĐÀ NẴNG BỎ NGỎ&lt;br /&gt;... Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã rời bỏ thành phố này, thành phố lớn nhứt miền Trung và là nơi trú đóng của Bộ Tư Lịnh Quân Đoàn 1 và Quân Khu 1. Một thành phố bị bỏ ngỏ trong khi bộ binh của địch vẫn chưa vào thành phố.&lt;br /&gt;TƯ LỊNH RỜI CHIẾN TRƯỜNG:&lt;br /&gt;... Đại tá Trí tròng một áo phao vào người ông và tướng Trưởng thốt ra một câu, không biết ông muốn nói với ai: “Coi đây như là một cuộc tự thoát!” Rồi cả hai cùng bơi ra biển. Tướng Trưởng và đại tá Trí lên HQ 402 sau đó chuyển qua HQ 404.&lt;br /&gt;LỊNH TỪ PHỦ TỔNG THỐNG:&lt;br /&gt;... Nội dung của công điện từ Phủ Tổng Thống như sau: “Lịnh của Tổng Thống: lịnh tử thủ vẫn còn hiệu lực. Mọi sự bỏ tuyến đều sẽ quy trách cho Tư Lịnh và đơn vị trưởng.” Trung tướng Trưởng vừa đọc vừa khỏ nhẹ cây viết trên bàn.&lt;br /&gt;SAU CUỘC CHIẾN&lt;br /&gt;Dù thắng hay bại, trong một cuộc chiến tất cả chiến sĩ hai bên đều làm nhiệm vụ của mình dù theo lý tưởng khác nhau.&lt;br /&gt;Sau cuộc chiến những chiến sĩ dù hy sinh cho một lý tưởng nào đó, khi chết trong bộ quân phục, đều là những anh hùng, thì khi đã nằm xuống phải được sự kính nể của những thế hệ sau.&lt;br /&gt;Hai trăm năm nữa con cháu chúng ta khi học lịch sử Việt Nam sẽ không khen người thắng không chê kẻ bại nhưng sẽ ghi nhận sự can trường hay hèn nhát của những người tham chiến.&lt;br /&gt;Vì thế những thế hệ mai sau sẽ không quên những anh hùng đã dũng cảm trên chiến trường từ Hải Quân thiếu tá Lê Anh Tuấn trên sông Nam, cho đến biệt hải Phạm Việt ngoài biển Bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những Bài Liên Quan:&lt;br /&gt;• Thêm một hồi ký về Cuộc Chiến Việt Nam của người trong cuộc (Friday, March 09, 2007 1:22:56 PM)&lt;br /&gt;Vào lúc 1 giờ chiều ngày mai Chủ Nhật 11 Tháng Ba, tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, cựu Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại sẽ ra mắt cuốn hồi ký “Can Trường Trong Chiến Bại”, một cuốn hồi ký được kể lại “với sự thành thật nhất cho dù có động chạm đến một số nhân vật trách nhiệm vào thời gian đó.” Tác giả cho biết như vậy.&lt;br /&gt;• Ðọc “Can Trường Trong Chiến Bại: Hành trình của một thủy thủ”, tác giả Hồ Văn Kỳ Thoại (Friday, March 09, 2007 5:25:56 PM)&lt;br /&gt;“Can Trường Trong Chiến Bại”, cái tên sách mang cái vẻ như một lời biện minh, nhưng trong suốt 330 trang sách, tác giả, cựu phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại không hề biện minh cho một thất bại lớn lao của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong biến cố 30-4-1975.&lt;br /&gt;• Cựu phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại ra mắt hồi ký “Can Trường Trong Chiến Bại” (Sunday, March 11, 2007 2:06:17 PM)&lt;br /&gt;Vào lúc 1 giờ 30 phút chiều Chủ Nhật, ngày 11 Tháng Ba, 2007 vừa qua, tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, cựu Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại đã ra mắt hồi ký “Can Trường Trong Chiến Bại” trước gần 200 cựu tướng lãnh, cựu chiến sĩ của các quân binh chủng QLVNCH và đồng hương người Việt Nam vùng Nam California.&lt;br /&gt;• Sổ Tay Cựu Chiến Binh: Phải viết ngay những gì cần viết lại (Tuesday, May 08, 2007 2:33:34 PM)&lt;br /&gt;Ý tưởng cho đầu đề của bài sổ tay hôm nay đến từ những buổi ra mắt sách gần đây tại Nhật Báo Người Việt: “Can Trường Trong Chiến Bại” (Hồ Văn Kỳ Thoại), “Nguyễn Khoa Nam” (Nhiều tác giả) và “Cơn Uất Hạ Lào (Bùi Ðức Lạc).&lt;br /&gt;• Hồi ký của Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (Tuesday, August 07, 2007 1:48:41 PM)&lt;br /&gt;Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại sanh tại quận Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, tốt nghiệp Khóa 4 Sĩ Quan Hải Quân (Đệ Nhứt Bắc Giải) tại Nha Trang. Ông Tốt nghiệp trường U.S. Naval Postraduate School (General Line) của Hải Quân Hoa Kỳ tại Monterey, California, khóa cao cấp Quản Trị Nhân Viên tại Pentagon, Washington DC, thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ tại Nhật Bản.&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2533462898413902860-7114342883191590575?l=biethai.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://biethai.blogspot.com/feeds/7114342883191590575/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/nhung-trich-oan-cua-can-truong-trong.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/7114342883191590575'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/7114342883191590575'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/nhung-trich-oan-cua-can-truong-trong.html' title='Những trích đoạn của &quot;Can Trường Trong Chiến Bại&quot;'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnII9x25UlI/AAAAAAAAFWE/FP-uc5Iks9Y/s72-c/50852402.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2533462898413902860.post-5317934724720185265</id><published>2009-07-28T22:58:00.000-07:00</published><updated>2009-07-30T14:03:35.878-07:00</updated><title type='text'>Những chuyến đi đinh mệnh của Biệt Hải - Biệt Hải Hồng Phúc</title><content type='html'>&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJMI5QYBI/AAAAAAAAFWU/SzqLzcWwPxs/s1600-h/cykru.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 258px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJMI5QYBI/AAAAAAAAFWU/SzqLzcWwPxs/s400/cykru.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5364360210302394386" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJFmWGjNI/AAAAAAAAFWM/4v872zwJfl8/s1600-h/bvswchim.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 139px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJFmWGjNI/AAAAAAAAFWM/4v872zwJfl8/s400/bvswchim.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5364360097948929234" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;LTS. - Ðể yểm trợ cho lễ giỗ của Biệt Hải sẽ diễn ra vào ngày 22 Tháng Bảy, 2007, chúng tôi tiếp tục đăng tải phần còn lại của bài “Những Chuyến Ði Ðịnh Mệnh” đã được đăng một phần mở đầu trên trang Diễn Ðàn Cựu Chiến Sỹ. Trong phần này, tòa soạn có chỉnh lại đầu đề.&lt;br /&gt;Ngay trong các ghe đánh cá ngoài khơi cũng có các cán bộ của hợp tác xã ngư nghiệp hoặc công an đi theo kiểm soát. Bằng chứng là một số tù binh cán bộ Bắc Việt khi bị bắt đưa về giải giao căn cứ Phượng Hoàng thuộc Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc họ đều khai báo mọi mặt, đủ cho biết đời sống dân chúng miền Bắc thời đó rất khác xa với đời sống trong miền Nam tự do.&lt;br /&gt;Vào thời điểm này hệ thống phòng thủ nhân dân miền Bắc đã được kiện toàn hết sức chặt chẽ, khiến mọi toán viên chúng tôi thật rất lo lắng nhất là khi nghe trưởng toán đề cập tới nhiệm vụ vào làng tìm bắt cán bộ, tức là đã tự “tìm vào cái bẫy của chúng”. Tuy rằng, ngoài mặt ai nấy vẫn tỏ thái độ hết sức trầm tĩnh, cốt không để lộ tình cảm dao động, nhưng ai nấy cũng dư hiểu và ý thức cao độ chuyến đi lần này được thành công an toàn trở về đều do ở tinh thần liên đới của đồng đội. Bằng ngược lại thì hậu quả thật khó đo lường.&lt;br /&gt;Bắt đầu từ chiều hôm đó, cứ mỗi buổi tối khi mặt trời đã tắt bóng và màn đêm phủ xuống, chín nhân viên kể cả trưởng toán là mười và số cố vấn SEAL huấn luyện, tất cả âm thầm đi ra bờ biển cách cổng trước của trại 9 lực lượng Biệt Hải khoảng 500 thước thực tập. Có đôi lúc toán được học tập phía cổng sau sát gần chân núi. Trong giờ huấn luyện, tuy không ai nhắc nhở cho ai nhưng tất cả đều ý thức và chăm chú học tập. Lúc thì ở ngồi khơi dùng thuyền cao su bơi vào bờ, khi thì tập di hành rất xa trên nhiều địa hình khác biệt. Có nhiều đêm, cả toán bất ngờ tìm cách đột kích chớp nhoáng vào các phòng ngủ của trại Dân Sự Chiến Ðấu, là đơn vị phòng thủ của doanh trại Biệt Hải hay phòng ốc của các cố vấn Hoa Kỳ, tìm bắt những ai hiện diện trong đó giả như tù binh và dẫn tất cả ra ngoài bờ biển, hầu giúp cho nhân viên toán làm quen với phần vụ trách nhiệm y như lúc thi hành thật sự.&lt;br /&gt;Vài ngày cuối cùng trước khi chính thức thật sự ra đi, toán Nimbus chúng tôi được các chiến đỉnh PTF chở đến thực hành công tác tại những vùng dân cư xôi đậu nằm phía trong bờ biển Cửa Ðại, Hội An-Quảng Nam, hoặc dọc bờ biển Quảng Ngãi đi vô. Những vùng này ban đêm hoàn toàn do du kích cộng sản kiểm soát. Mục đích là cấp trên muốn đo lường khả năng ứng phó của toán, và đồng thời giúp nhân viên trong toán quen với tình huống của mục tiêu miền Bắc sau này. Ða số những toán thực tập vào vùng xôi đậu đều đã chạm địch và thỉnh thoảng cũng xảy ra thương vong. Thời gian huấn luyện trôi qua thật nhanh và ngày giờ công tác thật sự đã điểm!&lt;br /&gt;Giữa Tháng Sáu năm 1967 vào buổi chiều, trước giờ khởi hành tất cả nhân viên công tác đều có mặt tham dự một buổi thuyết trình ngắn gọn. Toán gồm mười anh em, chia nhau ngồi vòng tròn trong văn phòng của toán Nimbus. Các lần thuyết trình công tác như thế này hoàn toàn không có cố vấn Mỹ tham dự mà do nhân viên Việt Nam phụ trách. Thỉnh thoảng mới có các cán bộ cao cấp của sở xuống dự thính.&lt;br /&gt;Máy bay thám thính U2 của không lực Hoa Kỳ&lt;br /&gt;Trước mặt mọi người đặt một sa bàn do phòng hành quân thiết kế hết sức tỉ mỉ. Trong đó hiện lên những con đường quanh co dẫn tới bìa làng, địa thế sông rạch, cây cối, nhà cửa tất cả đều được dẫn giải hết sức đầy đủ. Phía trên tường treo hơn chục tấm không ảnh U2 trắng đen, tất cả đều lờ mờ không mấy rõ ràng do máy bay thám thính trên cao chụp được và ghi theo số thứ tự. Bên cạnh một tấm bảng đen có ghi ngày, tháng đề rõ mục tiêu thuộc tỉnh... Bắc Việt. Theo thuyết trình viên trưởng toán, đêm nay chúng ta nhận nhiệm vụ đi vào Quảng Bình tìm bắt một cán bộ cao cấp từ Hà Nội mới tới theo nguồn tin tình báo cho biết.&lt;br /&gt;Thoạt nghe, tất cả đều tưởng tượng như truyện trinh thám nhưng khác ở chỗ đây là lệnh công tác thật sự mà mọi người bắt buộc phải thi hành. Tất cả anh em có mặt trong phòng thảy đều hồi hộp im lặng và cố lắng nghe, ghi tâm những lời trình bày hết sức mạch lạc của người trưởng toán qua lời lẽ đầy vẻ cương quyết khiến không khí căn phòng bây giờ trở nên yên tĩnh khác thường. Mọi cặp mắt đều đổ dồn vào ông nhìn không chớp. Thỉnh thoảng, vài câu hỏi được nêu ra từ những thắc mắc của các toán viên nhưng không kém phần nghiêm túc. Cuối cùng, mọi người đều thấu hiểu về tầm quan trọng của chuyến công tác đêm nay. Trước khi chấm dứt ông tiếp, tất cả cấp trên họ đều mong muốn chúng ta hoàn tất nhiệm vụ, mọi người có mặt đồng loạt đáp lại “cố gắng”.&lt;br /&gt;Toán rời trại đúng bốn giờ chiều cùng ngày gồm mười toán viên với hai xuồng cao su được đặt trên một trong hai chiếc GMC đều mang số xe ẩn tế màu xanh lá cây, có chữ T ở đầu. Ðến phiên mọi người lặng lẽ nối gót leo lên ngồi đối diện hai bên thành ghế. Trần xe sau đó được người tài xế Mỹ kéo xuống bao phủ kín mít. Lần này cũng do hai người tài xế cố vấn của toán chở thẳng xuống cầu tàu ở bên kia đường, cách trại Trần Hưng Ðạo của lực lượng Hải Tuần khoảng vài trăm mét. Ðoạn đường này chúng tôi từng đi qua nhiều lần nên đã quá quen thuộc. Thời gian hơn nửa tiếng đồng hồ ngồi trên xe ai nấy bất động. Thỉnh thoảng chỉ nhìn nhau một cách trầm ngâm như ngầm chia sẻ nỗi khó khăn bất trắc trong những giờ sắp đến. Quả thật tình đồng đội chưa lúc nào cảm thấy trân quí như lúc bấy giờ và nó đã tự vượt ra ngoài khuôn khổ tình cảm của gia đình vợ con. Trong thời gian vỏn vẹn vài giờ nữa thôi, con tàu định mệnh sẽ chuyên chở mọi người âm thầm chạy qua khỏi vĩ tuyến 17 để thi hành một phần vụ hết sức táo bạo và nguy hiểm. Trong lòng tôi chợt nghĩ dại, biết đâu trong số anh em và cả chính tôi sẽ không có may mắn để gặp lại người thân sáng sớm hôm sau!&lt;br /&gt;Toán Biệt Hải đang huấn luyện tại cầu tàu Hải Tuần&lt;br /&gt;Nhận xét chung của anh em chúng tôi là mỗi lần có tên đi thi hành công tác thì ai nấy đều tâm trạng xôn xao, hồi hộp. Nhưng có một điều thật lạ lùng và khó hiểu là khi đã đặt chân trên phần đất địch thì sự lo sợ ban đầu bỗng nhiên tiêu tan. Bấy giờ chỉ biết hoàn tất nhiệm vụ nhanh chóng để kịp thời gian trở ra điểm hẹn. Mải suy nghĩ vẩn vơ, hai chiếc GMC chạy tới bến tàu lúc nào không hay và hiện dừng lại trên một khoảng đất trống, gần cầu tàu bên cạnh văn phòng hành quân của sở. Người trưởng toán ngồi trước cạnh viên tài xế Mỹ vội vàng nhanh nhẹn mở cửa xe, đi thẳng vào phòng bộ chỉ huy hành quân họp bàn lần cuối cùng với những sĩ quan cao cấp Việt-Mỹ và các hạm trưởng PTF tham dự. Mục đích là để mọi phía phối hợp chặt chẽ cho chuyến công tác xâm nhập của toán tối nay. Phía ngoài, nhân viên chúng tôi cặm cụi chuyền mang hành lý cá nhân, phụ khiêng xuồng cao su, máy, bình xăng v.v... tất cả dụng cụ được mang xuống đặt trên boong tàu của chiếc PTF phụ trách chở toán.&lt;br /&gt;Ðung năm giờ chiều, một hồi còi trên đài chỉ huy tàu PTF hú vang báo hiệu đoàn tàu sắp sửa rời bến. Thời tiết Tháng Sáu bắt đầu chuyển sang Mùa Hè nên bầu trời trở nên trong xanh và quang đãng, không một gợn mây. Quanh vùng Vịnh của Tiên Sa đều sóng êm gió lặng khiến tất cả anh em đều muốn ngồi lại trên boong phía sau phòng lái cố nhìn ngắm cảnh sắc lần cuối. Xa gần, một số ghe thuyền dân chúng hành nghề đang chạy xuôi ngược nom thật vui mắt. Mọi người đang được hít thở không khí trong lành của gió biển thổi tới, khác hẳn với những lần mưa to gió lớn khi mọi người đành phải chui xuống hầm tàu chật chội, ngửi toàn mùi dầu máy bốc ra rất khó chịu, cộng thêm với tiếng máy chạy đinh tai nhức óc làm mọi người dễ bị say sóng. Trong lúc đó, ba chiếc chiến đỉnh PTF nhờ thời tiết thuận lợi vẫn lầm lũi thả hết tốc độ phăng phăng tiến lên phía Bắc. Nhiều đợt sóng lớn nhỏ ầm ầm ập tới nhưng không đủ sức mạnh để ngăn cản đoàn kình ngư từ phương Nam đang chở mười chiến sĩ Biệt Hải tiến vào mục tiêu. Lợi dụng thời gian tầu đang hải hành, mọi người cố tìm cho mình một chỗ khuất gió nằm tĩnh dưỡng dỗ dành giấc ngủ, hầu tăng thêm tinh thần và niềm tin trong những giờ sắp đến.&lt;br /&gt;Khoảng chín giờ đêm, một hồi còi ngắn từ phòng lái vang lên báo cho nhân viên biết giờ sẵn sàng đổ bộ. Hiện con tàu sắp sửa tiến vào điểm mục tiêu của công tác. Sau khi hồi còi chấm dứt, trong phòng bây giờ chẳng ai gọi ai, từ trưởng toán đến nhân viên, mọi người nhất loạt ngồi dậy kiểm soát lại cho mình lần cuối, tất cả dụng cụ mang theo như súng đạn, áo phao, đèn pin, súng hỏa châu đeo vào cổ để bắn báo hiệu cấp cứu khi cần thiết. Trong khoảng khắc, mọi thứ xong xuôi chỉ đợi hạm trưởng ra lệnh. Ðang loay hoay đứng trông vào bờ tìm kiếm vị trí, bỗng ai đó bên cạnh (trời tối nên tôi không nhớ rõ) vỗ vai trao tôi điếu thuốc đang cháy dở dang, bảo hít vài hơi trước khi xuống thuyền cho đỡ thấm lạnh. Nhận điếu thuốc đúng trong lúc lòng đang thèm khói tôi vội vàng rít liên tục mấy hơi liền, lòng thầm cám ơn lòng tốt của người bạn nhưng trong đầu vụt lên ý nghĩ, tí nữa đây vào bờ nếu chẳng may gặp nạn liệu ta còn có cơ hội để hưởng giây phút thần tiên này nữa hay không? Vừa lúc đó, tiếng hạm trưởng từ phòng lái dùng loa phóng thanh ra lệnh thả toán đã vội kéo tôi về với thực tại. Hai thuyền cao su được mọi người phụ giúp thòng dây cho thả nhẹ nhàng xuống nước. Tiếp đến, nhân viên phụ trách lái thuyền nổ máy. Vài tiếng ơi ới của anh phụ trách lái thuyền từ dưới vọng lên nhờ các bạn Hải Tuần trên tàu mở dây. Trưởng Toán Ấn với hải bàn trên tay chỉ hướng cho thuyền cao su trực chỉ chạy ngay vào bờ biển Quảng Bình. Một lúc sau ngoảnh đầu nhìn lại thấy các PTF xa dần rồi thoáng chốc biến mất hẳn trên mặt biển tối đen.&lt;br /&gt;Hiện giờ trong đất liền thấp thoáng nhiều đám cháy đang lập lòe mỗi lúc một lớn dần theo hướng tiến của hai chiếc thuyền cao su đang đà chạy vào. Tất cả đám cháy này đều phát xuất do các phi vụ do không lực Hoa kỳ từ hạm đội bay vào oanh tạc. Phía dưới đất, nhiều đường đạn lửa phòng không của bộ đội Bắc Việt bắn lên cùng lúc. Tiếp theo là ánh sáng hỏa châu từ các phản lực cơ lần lượt bung ra để ngăn cản hỏa tiễn tầm nhiệt trong đêm khiến cho vùng trời Quảng Bình rực sáng đã giúp chúng tôi ở ngoài thuyền trông thấy một cách dễ dàng. Mọi người trên thuyền đều nghĩ không ngờ chiến trường miền Bắc cũng sôi nổi tang thương, đâu thua kém gì chiến trường trong miền Nam hiện thời.&lt;br /&gt;Trưởng Toán Ấn ngồi cạnh cầm máy liên lạc báo thẩm quyền ngồi PTF biết hiện hai thuyền cao su đã tiến gần sát mục tiêu. Bất chợt, ông bảo người lái thuyền tắt máy rồi ra dấu cho mọi người lấy dầm chèo, tay chèo nhè nhẹ cho thuyền tiến vào bờ vì sợ tiếng máy trên xuồng cao su gây nên tiếng động tạo sự chú ý cho những toán dân quân bộ đội đang tuần tiễu trên bờ. Khi thuyền cao su cách bờ khoảng 1,000 mét ông bèn cắt hai người ở lại giữ thuyền và dặn dò họ phải bảo vệ cẩn thận. Còn lại tám người, chân nhái súng đạn nhẹ nhàng lao mình xuống nước, bám nhau bơi thẳng vào bờ. Khi chân chấm đất, hai tiền sát vội chia hướng chạy lên phía trước quan sát địa thế. Hồi lâu, một trong hai người đứng trên ra dấu an toàn bằng đèn hiệu. Nhận đúng ám hiệu, trưởng toán Ấn cho lệnh tất cả chạy nhanh về hướng tiền sát đang đợi.&lt;br /&gt;Theo sự hoạch định ở phòng thuyết trình thì toán có bổn phận len lỏi tìm kiếm đến nhà cán bộ, nhưng khổ nỗi trước mắt hiện thời quang cảnh hoàn toàn khác hẳn những gì đã được mô tả trong phòng thuyết trình. Từ thời tiết đến cảnh vật, tất cả đều lạ lẫm thì nói gì tìm đến được nhà cán bộ trú ngụ lúc này! Giờ thì “một phút lỗi lầm, ngàn năm di hận”. Sau mấy phút suy nghĩ, Trưởng Toán Ấn nhanh chóng quyết định, gọi hai tiền sát đến bảo nhỏ, hai anh cố bám theo đường mòn đi lần tới bìa làng rồi tìm vào căn nhà đầu tiên ráng bắt cho được một người, bất luận đàn ông hay đàn bà rồi khôn khéo dụ hỏi may có thể tìm ra manh mối.&lt;br /&gt;Hai người tiền sát y lời cùng sáu anh em âm thầm mò mẫm lần tới. May thay họ đã gặp được một căn nhà lá xiêu vẹo nằm trơ trọi đầu xóm, sát bên lề đường. Theo lời căn dặn của trưởng toán, Thi và Tiến len lỏi vào đứng trước cửa nhà gõ cửa. Ở trong có tiếng vọng ra hỏi lớn: “Ai đó?” ù ù. Với giọng phát âm rất đúng địa phương Quảng Bình, Thi lên tiếng: “Tụi tui là công an của huyện, yêu cầu đồng chí mở cửa”. Cánh cửa phên từ từ hé mở. Một người đàn ông lớn tuổi đứng trong ló đầu ra ngoài, trên tay đang cầm một ngọn đèn dầu đốt bằng tim bấc. Khi ông này nhìn thấy hai người tiền sát tất cả đều mặc áo quần bà ba đen, quần xắn ống cao ống thấp lộ hẳn đôi dép râu Bình Trị, trên vai cả hai đều mang AK-47 như thể các công an của huyện xã thứ thiệt làm cho người đàn ông tưởng thật không tỏ vẻ nghi ngờ. Sẵn đó, hai anh liền yêu cầu ông ra trước sân nhà nói chuyện cho tiện. Lúc đó tổ bắt tù binh ai nấy bố trí sẵn sàng trong các lùm cây bên hông nhà. Vừa trông thấy người đàn ông lững thững đi ra, nhanh như cắt tất cả nhảy ra cùng một lượt mạnh tay đè người đàn ông này xuống, lấy còng khía vào hai cổ tay và đồng thời dí súng vào bên hông dẫn người thường dân kia vừa đi vừa chạy, thoát nhanh khỏi căn nhà một quãng khá xa.&lt;br /&gt;Lúc ấy cả thân người ông run lên bần bật, miệng thốt không thành tiếng. Từ trong bóng đêm, trưởng toán đi lại ghé sát tai người thường dân và hỏi: “Ðồng chí có biết chỗ ở của người cán bộ mà hiện chúng tôi muốn gặp hay không? Hãy suy nghĩ và nên thành khẩn khai báo sự thật, nếu cứng đầu la lên e rằng khó toàn tánh mạng”. Theo kinh nghiệm các chuyến trước đây, lúc này nhất cử nhất động của người đàn ông đều được anh em trước sau để mắt theo dõi. Chúng tôi được ông chấp nhận hướng dẫn toán băng qua nhiều căn nhà trong xóm. Từ nãy đến giờ tính ra khá lâu, có lẽ vì sự nôn nóng của chúng tôi, phần nữa vì không thấy ông dừng lại nghỉ đã làm mọi người lắm lúc đâm ra hồi hộp. Cũng may chưa nghe được tiếng chó sủa trong xóm. Thình lình mọi người thấy ông đứng lại trước mặt một căn nhà cuối xóm rồi lấy tay chỉ vào và nói: “Nè nhà của eng (ông) cán bộ các eng muốn hỏi ở chỗ nớ tề”.&lt;br /&gt;Giờ phút này chúng tôi mới thật sự an tâm vì đã đến được mục tiêu nhưng rồi âu lo chuyện khác vì không biết kết quả sắp tới thế nào? Từng tổ tự động chia ra nằm ngồi chờ đợi khoảng ba phút, cốt để theo dõi tình hình chung quanh rồi mới quyết định. Phía trong căn nhà hiện vẫn hoàn toàn vắng lặng. Ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu leo lét trong nhà tỏa không đủ sáng. Ở chỗ chúng tôi đang nằm, ôi thôi từng đàn muỗi đói chúng đánh được mùi đã rủ nhau nhanh nhẹn bay tới vo ve bên tai mỗi lúc càng đông, liên tục sà xuống đâm vào da thịt mọi người hết sức lì lợm. Tất cả anh em bắt buộc phải cắn răng chịu đựng vì sợ gây ra tiếng động lúc này thì hỏng mọi chuyện. Khi thật sự đã nắm vững tình hình chu vi trong ngồi căn nhà, trưởng toán ra dấu cho từng tổ tìm cách đi sát vào gần nhà rồi chia nhau nằm án ngữ các lối ra vào. Lúc này, bổn phận hai anh Thi và Tiến là đi sát vào gần rồi lấy tay gõ nhẹ trên vách thành cửa và đồng thời lên tiếng: “Tụi tui thuộc bộ đội công an huyện, được lệnh về đây để hợp tác làm việc với đồng chí”. Tức thời trong nhà có người đi ra mở cửa. Lợi dụng lúc bất ngờ sơ hở, tổ bắt tù binh đồng loạt đạp cửa xông vào nhà nhưng chỉ trông thấy một mình người cán bộ. Phần vì bất ngờ, phần vì tổ bắt tù binh ra tay quá nhanh và mạnh khiến tên cán bộ không kịp phản ứng. Mọi người hè nhau xáp lại dùng thế kẹp cổ, còng tay bịt miệng lôi y dẫn chạy ra ngoài. Anh em còn lại trông thấy tất cả hiểu ý vội rời mục tiêu. Sau khi rời khỏi căn nhà của tên cán bộ chưa đầy mười phút, chúng tôi chợt nghe thấy tiếng mõ, tiếng phèng la gõ báo động liên tục khắp nơi. Tiếp đến, nhiều loạt đạn của toán dân quân bắn đuổi theo về phía chúng tôi đang di chuyển.&lt;br /&gt;Biết toán đã bị bại lộ, mọi người càng ra sức thúc hối vừa đi vừa chạy, cố tìm hướng thẳng ra bờ biển thoát thân. Trong phút giây hiểm nguy gần kề anh em không thể dẫn theo hai người tù binh cùng một lúc. Vì sợ không kịp thời gian nên Trưởng Toán Ấn quyết định thả người thường dân cho về và chỉ dẫn tên cán bộ chạy theo toán trên đường rút lui. Riêng tổ hậu vệ đi sau thỉnh thoảng phải đứng lại bắn trả nhiều loạt AK truy cản cho toán phía trước. Ðang lúc cấp bách thập phần nguy hiểm ấy, một cơn mưa giông đột nhiên xuất hiện rồi ào ạt trút nước xuống như thác khiến bầu trời đang tối lại càng tối thêm, vô tình đã gây ra không biết bao nhiêu trở ngại cho toán trên đường rút lui.&lt;br /&gt;Phía trước, hai tiền sát vẫn lầm lũi xông xáo tìm đường đi ra. Tuy nhiên, bây giờ đường lối trở nên trầy trụa và trơn ướt vì bị cơn giông vừa rồi làm tiền sát viên Nguyễn Văn Tiến trong lúc bất ngờ trợt chân té ngã cả người xuống một hố sâu, ước chừng 15 đến 20 thước. Không rõ hố này có phải là hố bom do phi cơ oanh tạc hay là hố của dân chúng đào để ẩn tránh máy bay bỏ lại. Ngay lúc đó trên miệng hầm, một số anh em nghe được phía dưới báo lên cho biết hiện anh Tiến đã gãy một chân không còn đứng vững được nữa. Cùng lúc đó, tiếng súng lẫn tiếng mõ, tiếng dân quân biên phòng la hét chạy đến tìm cách bao vây chúng tôi mỗi lúc một gần thêm. Trưởng Toán Ấn ra lệnh phân nửa toán vòng ngoài bắn chận hậu, cốt kéo dài thời gian. Số anh em còn lại cố tìm phương cách giúp kéo anh Tiến lên khỏi miệng hầm nhưng cuối cùng vẫn không đạt được kết qủa. Thông thường, tổ phụ trách tù binh chỉ mang theo tối đa là 7 hoặc 10 thước dây, vừa đủ trói và dẫn dắt tù binh. Sợi dây này còn được dùng để kéo tù binh từ bờ ra thuyền cao su. Nhưng hiện giờ, sợi dây đang được dùng để cột người tù binh cán bộ và chiều dài đoạn dây cũng không đủ để thòng xuống phía dưới cứu anh Tiến lên. Mọi người đành đứng trên miệng hố thúc thủ!&lt;br /&gt;Trước nghịch cảnh hiện tại không phương kế cứu cấp, còn người bạn ở dưới thì đang ngước lên chờ đợi từng phút từng giây. Trong lúc đó, dân quân bộ đội của chúng đang huy động từ từ siết chặt vòng vây. Vài anh em động lòng thương cảm lấy đèn pin rọi xuống hố thấy hình bóng của anh Tiến dưới đó lờ mờ ngước trông lên mà lòng càng thêm tê tái! Hoàn cảnh sao xảy ra trớ trêu đến thế, không đầy một tiếng đồng hồ nữa thôi, anh Tiến và chúng tôi tất cả sẽ xuống thuyền trở ra tàu về Nam, được gặp lại vợ con và những người thân thuộc. Trong khi tất cả ở trên lính quýnh suy tính tìm cách, bỗng nghe anh Tiến từ dưới vọng lên: “Giờ phút này các bạn không còn cách gì cứu tôi được nữa! Vì an toàn và trách nhiệm các anh cứ về đi”. Mới cách vài tiếng đồng hồ trước đây, anh cùng chúng tôi san sẻ hiểm nguy với nhau, thế mà bây giờ định mệnh lại cố tình ngăn cách làm kẻ dưới người trên bờ âm thầm tuyệt vọng. Làm sao có thể đành tâm bỏ anh một mình trong hoàn cảnh bức thiết thế này? Trên mặt kim đồng hồ hiện điểm gần 5 giờ sáng, giờ báo hiệu hối thúc anh em hãy mau tìm đến gặp nhau tại điểm hẹn. Trước tình thế lưỡng nan đó, trưởng toán đành miễn cưỡng đi lại miệng hầm, cúi xuống thay mặt anh em nghẹn ngào nói lời từ biệt, rồi ra lệnh dẫn tên tù binh tiếp tục mở đường tháo chạy.&lt;br /&gt;Khi tất cả đã lội ra được ngoài thuyền cao su đầy đủ, Trưởng Toán Ấn gọi báo cáo tình hình cho thẩm quyền ở ngoài chiến đỉnh PTF và trình bày sự việc. Các hạm trưởng khuyên toán hãy gắng đậu lại chờ thêm thời gian, biết đâu sẽ thấy được dấu hiệu anh Tiến. Nhưng giây phút trôi qua càng lúc càng nhanh mà tin tức về Biệt Hải Nguyễn Văn Tiến thì mỗi lúc càng thêm biền biệt. Ngước nhìn hướng Ðông, vầng thái dương sắp ló dạng lên cao nên toán chúng tôi không thể nán đợi thêm nữa. Ở phía trong bờ, bộ đội dân quân biên phòng Bắc Việt vẫn đang đi tìm kiếm lùng bắt. Cuối cùng, tất cả đành hướng vào bờ như một lời vĩnh biệt âm thầm tiễn anh Tiến lần cuối. Cả hai thuyền cao su đều trực chỉ chạy ra hướng PTF.&lt;br /&gt;Sáng hôm sau về đến trại 9, theo đúng thủ tục, Bộ Chỉ Huy Sở Phòng Vệ Duyên Hải đã phái nhân viên qua tận địa chỉ nhà vợ của Trung Sĩ I Nguyễn Văn Tiến báo cho thân nhân gia đình biết anh đã bị mất tích trong khi thi hành công tác. Sau đó vài hôm, tất cả toán Nimbus chúng tôi đã tới giáo xứ Tam Tòa, Ðà Nẵng tham dự lễ cầu bình an cho anh. Chúng tôi luôn tin tưởng và hy vọng anh vẫn còn sống. Nhưng sau năm 1975 và mãi đến bây giờ, vài anh em đôi lần có dịp ghé đến nhà chơi hỏi thăm tin tức về anh nhưng được gia đình cho biết từ đó đến nay không còn nghe thấy tin tức gì về anh cả! Thật sự Biệt Hải Nguyễn Văn Tiến đã không bao giờ trở lại, như chính anh đã từng chấp nhận trước khi gia nhập đơn vị, thề xin chọn cái chết trên phần đất quê hương Quảng Bình, nơi đã sinh ra và cưu mang anh lớn khôn như lời trăn trối trước khi giã từ bạn bè. Trong thân thương âm thầm của mỗi nhân viên Biệt Hải cho dù bất cứ ở đâu, chúng tôi vẫn một lòng một dạ nhớ thương và quí trọng anh. Ðặc biệt đối với tất cả các Chiến Sĩ Vô Danh đã vị quốc vong thân như anh thì...&lt;br /&gt;Còn hay mất vẫn một đời oanh liệt&lt;br /&gt;Mộng kình ngư chưa thỏa chí anh hùng.&lt;br /&gt;Sau thời gian đó không lâu, toán Nimbus chúng tôi lại được Sở Tâm Lý Chiến chỉ định và giao phó một phần vụ công tác để chuyển đưa một số đồ chơi ra vùng Thanh Hóa, Bắc Việt vào dịp Tết Trung Thu năm 1967. Ðối với lực lượng Biệt Hải, bất kỳ chuyến công tác nào cũng thuộc vào loại quan trọng. Nhưng đặc biệt chuyến này có thêm vài điểm hết sức khác lạ hơn những chuyến khác rất nhiều. Bởi vì trong một lúc, toán phải thi hành cả hai nhiệm vụ: Ðó là bắt cóc cán bộ tại các địa phương miền Bắc đưa về Nam để giao lại cho Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc khai thác tin tức. Ngoài ra, toán Nimbus còn được Sở Tâm Lý Chiến trao thêm trách nhiệm “chiến tranh tâm lý” nữa. Vì lúc đó đúng vào dịp Tết Trung Thu nên toán phải mang những gói quà biếu tặng của PTGTAQ, gồm các thứ kẹo bánh, đồ chơi v.v... tất cả được đem ra theo chuyến công tác để trao lại cho những gia đình có con em tại một số vùng thuộc miền duyên hải Thanh Hóa.&lt;br /&gt;Tất cả những thứ này đã được Sở Tâm Lý Chiến gói sẵn trong các bọc nylon nhiều lớp hết sức kín đáo vì sợ bị thấm nước. Sáu anh em toán Nimbus chúng tôi chỉ biết thi hành để hoàn tất nhiệm vụ. Vì thế nên chuyến này toán được thực tập hết sức kỹ càng và chu đáo. Ngoài bản đồ và sa bàn, mọi người còn được cấp trên cho xem nhiều tấm không ảnh U2 chụp trong một vùng rất nhiều xóm nhà sát biển nghèo nàn. Cũng như những chuyến trước, vấn đề phương tiện chuyên chở các toán Biệt Hải để thi hành công tác lần này cũng thế, dĩ nhiên đều do các chiến đỉnh PTF của Lực Lượng Hải Tuần đảm trách chở từ Ðà Nẵng ra đến vùng biển Thanh Hóa, rồi từ đó các toán mới dùng loại xuồng nhỏ cao su chạy vào các địa điểm công tác. Ðúng hai giờ sáng, chúng tôi đến mục tiêu mà cấp trên đã chỉ định. Ðó là một xóm nhà lá chài lưới trông rất nghèo nàn thuộc vùng duyên hải Thanh Hóa. Khi đến nơi, trước tiên chúng tôi dò hỏi tìm đến nhà trú ngụ của viên cán bộ nhưng không thấy hắn ở nhà. Anh em chỉ gặp toàn là ông già bà lão và một số em nhỏ. Tiện đó, chúng tôi đem ra phân phát những gói quà Trung Thu cho một số gia đình. Tiếp đến, vài anh em trong toán tìm cách cắm cờ Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc trong khu xóm rồi ngầm ra hiệu cấp tốc rút lui trở ra bờ biển, đề phòng trong nhà sẽ có người đi báo cáo công an. Trong giây phút gặp gỡ chuyện trò ngắn ngủi đó, anh em đã nghe một số dân chúng nói lời cám ơn rối rít sau khi nhận quà và luôn gọi sáu anh em chúng tôi là cán bộ mặt trận. Cùng lúc có vài người trẻ bạo miệng xin được đi theo chúng tôi. Nhưng chuyến này anh em toán không có lệnh bắt thường dân đưa về Nam khai thác tin tức như mọi lần trước đây nên vội từ chối nói khéo “Mặt Trận”, tức chúng tôi sẽ đến gặp lại họ trong những lần tới. Theo cảm nghĩ của anh em trong chuyến, với cuộc sống cơ cực đầy khó khăn thế này không biết số quà mà mọi người vừa nhận có được cất giữ để dùng hay lại bị công an của phường, xã tịch thu?&lt;br /&gt;Cho đến bây giờ, ít có người biết được một cách đầy đủ về hoạt động của các toán Biệt Hải chúng tôi trong những chuyến công tác đặc biệt tại những vùng duyên hải miền Bắc Việt Nam. Ngay trong nội bộ Sở PVDH, mọi tin tức cũng đều được giữ kín. Các nhân viên Biệt Hải vẫn chưa bao giờ được chia xẻ những giây phút hiểm nguy bậc nhất trong cuộc đời của mình mà vẫn phải giữ kín cho đến ngày hôm nay. Hy vọng bài viết này đã nói lên được một vài điều bí mật về cuộc chiến Việt Nam.&lt;br /&gt;Biệt Hải Hồng Phúc&lt;br /&gt;(Thành viên toán Nimbus trong thời điểm 1965-1968)&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2533462898413902860-5317934724720185265?l=biethai.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://biethai.blogspot.com/feeds/5317934724720185265/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/nhung-chuyen-i-inh-menh-cua-biet-hai.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/5317934724720185265'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/5317934724720185265'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/nhung-chuyen-i-inh-menh-cua-biet-hai.html' title='Những chuyến đi đinh mệnh của Biệt Hải - Biệt Hải Hồng Phúc'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJMI5QYBI/AAAAAAAAFWU/SzqLzcWwPxs/s72-c/cykru.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2533462898413902860.post-8781109294143520450</id><published>2009-07-28T22:57:00.001-07:00</published><updated>2009-07-30T14:06:00.415-07:00</updated><title type='text'>Những chuyến công tác giải cứu tù binh bất thành từ năm 1969-1971</title><content type='html'>&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJt5cN3vI/AAAAAAAAFW8/Ry0TS5A9rRg/s1600-h/llhtso1j.jpg"&gt;&lt;span style="color:#660000;"&gt;&lt;em&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5364360790269615858" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 328px; CURSOR: hand; HEIGHT: 89px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJt5cN3vI/AAAAAAAAFW8/Ry0TS5A9rRg/s400/llhtso1j.jpg" border="0" /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="color:#660000;"&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJnZ-BMII/AAAAAAAAFW0/s4Qga6i8GX4/s1600-h/llhtp4j.jpg"&gt;&lt;span style="color:#660000;"&gt;&lt;em&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5364360678742241410" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 328px; CURSOR: hand; HEIGHT: 103px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJnZ-BMII/AAAAAAAAFW0/s4Qga6i8GX4/s400/llhtp4j.jpg" border="0" /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="color:#660000;"&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJcqNMzfI/AAAAAAAAFWs/MkNSV5_ennc/s1600-h/llhttrai.jpg"&gt;&lt;span style="color:#660000;"&gt;&lt;em&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5364360494122323442" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 272px; CURSOR: hand; HEIGHT: 153px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJcqNMzfI/AAAAAAAAFWs/MkNSV5_ennc/s400/llhttrai.jpg" border="0" /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="color:#660000;"&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#660000;"&gt;&lt;em&gt;LTS.- Ngày 22 Tháng Bảy, 2007 tới đây, lực lượng Biệt Hải sẽ tổ chức lễ giỗ cho những anh hùng tử sĩ của đơn vị và phát hành Ðặc San Biệt Hải. Mục Diễn Ðàn của nhật báo Người Việt trích đăng bài này từ Ðặc San Biệt Hải để yểm trợ. Bài dài đăng nhiều kỳ.&lt;br /&gt;Vào cuối năm 1968 Hoa Kỳ quyết định ngưng oanh tạc Bắc Việt nên các cuộc hành quân tại miền Bắc của lực lượng Hải Tuần và lực lượng Biệt Hải xem như chấm dứt. Hàng tuần, các chiến đỉnh Hải Tuần ra khơi thao dượt phòng không, tác xạ. Các chiếc PTF nằm bến được các thủy thủ đoàn Việt Nam và các chuyên viên hải quân Hoa Kỳ phụ trách việc bảo trì tu bổ cẩn thận để sẵn sàng khi hữu sự. Còn các toán Biệt Hải thì ngày ngày lo luyện tập bồi dưỡng chuẩn bị công tác trở lại khi tình hình thay đổi. Trong lúc chờ đợi, thỉnh thoảng các PTF và các toán Biệt Hải tham dự các chuyến hành quân đột kích vào các mật khu Cộng Sản dọc duyên hải Vùng 1 và Vùng 2.&lt;br /&gt;Sau vụ biến cố Tết Mậu Thân năm 1968, cường độ của cuộc chiến trên toàn lãnh thổ miền Nam đã gia tăng mãnh liệt. Trước tình thế nhu cầu chiến trường miền Nam và thể theo đề nghị từ cấp chỉ huy ở trung ương, Sở Phòng Vệ Duyên Hải quyết định gửi các toán Biệt Hải tăng phái vào Nam hoạt động trong các công tác xâm nhập vào các mật khu của Cộng Sản. Trước tin này anh em Biệt Hải rất phấn khởi, được vinh dự góp phần chiến đấu cùng đơn vị QLVNCH để bảo vệ phần đất tự do thân yêu còn lại trong đó có các sông rạch màu mỡ miền Nam, áp dụng chiến thuật đặc công đánh trả lại địch.&lt;br /&gt;Ðịa thế tại Vùng 4 Chiến Thuật có nhiều sông rạch đầm lầy, khác với địa thế duyên hải miền Bắc mà các toán Biệt Hải đã từng hoạt động. Bởi vậy trước khi khởi sự vào miền Nam công tác, cấp trên đã chỉ thị nhân viên các toán gia tăng huấn luyện thêm thời gian một vài tuần lễ về cách vượt sông (bơi qua lại sông Hàn-Ðà Nẵng gần cầu Trịnh Minh Thế), các chiến thuật tập kích chớp nhoáng ban đêm v.v... hầu giúp mọi người thích nghi làm quen địa thế những nơi mà các toán Biệt Hải sắp được gửi đến công tác nay mai.&lt;br /&gt;Sau thời gian khóa học bổ túc hoàn tất, một buổi sáng sớm tất cả toán chúng tôi được Bộ Chỉ Huy chở sang tận phi trường Ðà Nẵng để vào Nam công tác. Phương tiện chuyển vận sẽ do MACV cung cấp. Một chiếc máy bay thuộc loại C-130 từ Sài Gòn bay ra đáp xuống bốc chở riêng toán Biệt Hải Nimbus. Sau đó chiếc phi cơ lại lẹ làng cất cánh. Phi hành đoàn máy bay tất cả đều người Ðài Loan. Toàn thân máy bay sơn màu xanh lá cây. Hai bên hông không gắn bảng số hay huy hiệu. Sau mấy giờ bay chiếc C-130 đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất và ngừng đậu một chỗ riêng biệt. Một lần nữa, anh em toán lần lượt rời khỏi máy bay với tất cả hành lý súng đạn, chia nhau lên mấy chiếc GMC do Nha Kỹ Thuật phái tới đang chờ sẵn phía cửa sau của đuôi máy bay. Ðoàn xe GMC nầy cũng được sơn màu ngụy trang tương tự như chiếc C-130 vừa rồi, khác ở chỗ tất cả bảng xe đều sơn màu vàng mang hàng số ẩn tế chữ “T” đầu, chở toán Nimbus một mạch chạy xuống căn cứ Ðồng Tâm-Mỹ Tho.&lt;br /&gt;Có thể nói đây là lần đầu tiên mà toán Biệt Hải chúng tôi gửi đến thi hành công tác tại Vùng 4 Chiến Thuật. Trên chặng đường những nhân viên sinh trưởng miền Nam tất cả vui mừng khi được gặp lại cảnh cũ làng xưa. Còn anh em quê miền Trung thì lấy làm bỡ ngỡ vì không ngờ đời sống miền Nam lại trù phú nhộn nhịp đến thế.&lt;br /&gt;Khoảng xế chiều cùng ngày tất cả toán Biệt Hải Nimbus đến căn cứ hải quân Hoa Kỳ thuộc Ðồng Tâm-Mỹ Tho và được một số cấp chỉ huy của căn cứ đứng đợi. Sau đó vài sĩ quan hướng dẫn anh em chúng tôi tới một khu nhà biệt lập dành riêng toán Biệt Hải tạm trú trong thời gian công tác. Thời gian sau này mỗi lần các toán Biệt Hải biệt phái vào Nam đều được tạm trú trong các căn cứ của hải quân hoặc trên những chiến hạm Hoa Kỳ. Các nơi đó có bổn phận chu cấp ăn uống cũng như lo phương tiện chuyên chở. Trong khi lưu lại, các cố vấn Mỹ liên lạc với căn cứ để cung cấp các tiện nghi cũng như phương tiện cho nhân viên Biệt Hải giống như quân nhân của Mỹ phục vụ trong căn cứ.&lt;br /&gt;Vừa đặt chân đến căn cứ đêm đầu tiên, chúng tôi được nếm mùi vị pháo kích của Việt Cộng vào căn cứ. Có thể nói đây là sự việc hết sức mới mẻ đối với chúng tôi. Trước đây các toán Biệt Hải hoạt động ngoài duyên hải miền Bắc, ngoại trừ máy bay hạm đội bay vào giội bom, nên không biết pháo kích là gì. Sau ba ngày anh em nghỉ ngơi lấy sức, tối nay toán Nimbus chúng tôi bắt đầu nhận lệnh khởi hành công tác. Trước giờ đi anh em toán được các sĩ quan hành quân phối hợp với các cố vấn của toán thuyết trình về mục tiêu, đồng thời cho biết chi tiết về tình hình bạn địch chung quanh căn cứ Ðồng Tâm và nhiệm vụ của chúng tôi. Trong đêm nay toán Nimbus làm thế nào bắt sống tù binh để đưa về khai thác tin tức và chỉ nổ súng trong trường hợp cần thiết. Ðiều làm mọi người trong toán lo ngại vấn đề mìn bẫy. Nghe nói vùng này có nhiều mương rạch và nhiều dừa nước mọc lên chằng chịt thường được du kích Việt Cộng hay gài mìn bẫy. Còn vấn đề gặp địch là chuyện may rủi. Một điều chắc chắn phía du kích Việt Cộng hiện cũng không ngờ toán Biệt Hải chúng tôi đang có mặt trong vùng.&lt;br /&gt;Khoảng tám giờ tối, toán Biệt Hải được hai giang tốc đỉnh PBR (Patrol River Boat) của hải quân Hoa Kỳ chở đi, mỗi chiếc đều trang bị vũ khí khá hùng hậu. Ngoài khẩu đại liên 50 bắn bằng điện, hai bên hông còn có hai khẩu M-79 liên thanh, những đầu đạn M-79 màu vàng nổi lên óng ánh như trái bắp ngô. Cả hai chiếc tàu chạy hơn một tiếng đồng hồ lướt qua nhiều khúc sông, mương, rạch cuối cùng đến được địa điểm đổ toán. Vừa đến nơi thuyền trưởng tăng hết tốc độ điểu khiển cho mũi tàu trượt ủi lên trên mép bờ, làm sóng nước dạt ra hai bên khiến nhiều bụi cây lần lượt bị lườn tàu đè bẹp, phát ra tiếng kêu sột soạt. Cùng lúc từ phòng lái tối om lệnh người thuyền trưởng Hoa Kỳ vang lên ngắn gọn đủ nghe: “Go, Go.” Chúng tôi chẳng ai chờ ai, cùng đồng loạt phóng xuống hai bên mé nước trong tư thế sẵn sàng chuẩn bị di chuyển. Hai chiếc tàu đổ toán xong xuôi lặng lẽ rút lui một cách êm thấm. Tiếng máy tàu mỗi lúc xa dần. Trong chốc lát tất cả cảnh vật chung quanh đều trở lại yên tĩnh còn toán Biệt Hải khởi động di chuyển.&lt;br /&gt;Trên đường đi mọi người lội qua nhiều khúc sông, mương rạch sình lầy hết sức vất vả. Cuối cùng xóm nhà lá điểm chính mục tiêu tối nay hiện ra trước mắt như tại phòng thuyết trình cho biết. Ðiều làm chúng tôi ngạc nhiên giờ nầy dù đã quá khuya nhưng mọi nhà vẫn còn thắp đèn và hầu như cả xóm. Trong ánh sáng lờ mờ của những ngọn đèn dầu leo lắt tỏa yếu ớt, thỉnh thoảng nghe tiếng chuyện trò cười cợt đứt quãng sau những căn nhà khuất lấp vọng ra. Ngoài bìa làng toán chúng tôi vẫn âm thầm tiến bước, tìm điểm thuận lợi nằm đợi phục kích và vị trí được trưởng toán chọn lựa nằm lại, bên cạnh một con đường mòn dẫn vào ngay xóm.&lt;br /&gt;Ðã hơn ba giờ sáng, cảnh vật chung quanh trở nên vắng lặng. Bỗng đằng xa chúng tôi phát hiện tiếng người cười nói mỗi lúc càng gần, giọng nghe nhừa nhựa như những người say rượu. Hình như cả bọn đang đi về hướng toán nằm chờ đợi. Ðúng theo dự đoán bọn họ tất cả ba người và người nào cũng say xỉn lỉn, bước đi không vững. Hai bên khoảng cách không quá ba thước trong tầm kiểm soát của toán. Chúng tôi trông thấy mỗi người trên vai khoác toòng teng một khẩu AK-47, mũi súng lắc qua lắc lại theo nhịp đi hai hàng không đều. Trong bóng đêm, tiếng của trưởng toán hô lên: “Ðứng lại!” đồng thời chúng tôi tất cả nhảy ra bắt sống. Trong số ba tên có một tên hoàn hồn tỉnh lại nghe hắn hét lớn: “Có quỉ, quỉ tụi bây ơi!” rồi vùng thoát chạy. Trước giờ khởi hành toán đã nhận lệnh cấp trên đêm nay ưu tiên bắt sống tù binh đem về khai thác, ngoại trừ bắt buộc tự vệ thì mới khai hỏa để bảo mật cho những công tác sắp tới. Nếu không thì tên du kích tháo chạy hồi nãy có lẽ đã được anh em giúp đưa đầu thai. Còn lại hai tên vì quá say đã bị chúng tôi bắt sống, tịch thâu trên người được một khẩu AK-47 và một súng ngắn K-54. Có lẽ nghĩ đây thuộc vùng cấm địa của chúng, nhất là ban đêm nên cả bọn tha hồ ăn no uống say lơ là cảnh giới.&lt;br /&gt;Thu gọn xong chiến trường mấy phút sau toán lẹ làng rời khỏi điểm kích, âm thầm dẫn theo hai tù binh Việt Cộng đi trở lại bờ rạch lúc trước. Trưởng toán dừng lại mở máy liên lạc gọi tàu chạy vào đón toán. Ngoài anh em chúng tôi còn thêm hai tù binh Việt Cộng vừa mới bắt được tất cả đều leo lên tàu. Thuyền trưởng cùng thủy thủ hải quân Hoa Kỳ trông thấy chúng tôi bắt được “Vixi” đều tỏ thán phục với cử chỉ thân thiện đi ngang giơ ngón tay cái lên trời hàm ý - number one - số dách .&lt;br /&gt;Ðêm về khuya dòng sông Mỹ Tho lững lờ trôi đã vô tình xô đẩy từng đám lục bình dạt khắp muôn hướng. Trong khi hai chiếc tàu vẫn âm thầm nối đuôi xả hết tốc độ chạy trở về căn cứ, khiến nhiều luồng gió trong đêm ào ạt thổi tới đã làm mọi người cảm thấy bây giờ thấm lạnh, vì quần áo tất cả đều ướt trong lúc băng qua mương rạch. Nhìn hai tù binh qua cơn hoảng loạn lần lần tỉnh rượu toàn thân run rẩy. Thấy cảnh thương tâm tôi tìm cách rề tới bên cạnh lấy ra bao thuốc châm lửa, rồi gắn vào trên môi mỗi người một điếu và tìm cách khơi chuyện dò hỏi: “Ðêm nay các đồng chí đi công tác ở đâu mà về khuya khoắt lại say sưa đến thế? Có phải tất cả vừa đi tham dự liên hoan phải không?” Một trong hai tên nhanh miệng trả lời: “Tối nay anh em tôi đi ăn giỗ một đồng chí vừa mới hy sinh.” Rồi chợt nghĩ chuyện đêm qua cả xóm thắp đèn, tôi lại vội hỏi trong xóm các anh tối nay đã xảy ra chuyện gì, mà mọi nhà thắp đèn suốt đêm như vậy? Người tù binh đỡ lời nói tiếp: “Ðó là ám hiệu hằng đêm do cấp trên chúng tôi bắt buộc cả xóm thi hành, đèn thắp sáng suốt đêm chứng tỏ không có địch quân xuất hiện. Còn thấy nhà nào đèn tắt đó là ám hiệu báo động có địch xuất hiện.”&lt;br /&gt;Ðang mải mê trao đổi với người tù binh hai chiếc tàu chạy về cập bến lúc nào không hay. Vừa bước lên khỏi cầu tàu chúng tôi liền giải giao hai người tù binh trao hết cho căn cứ xử trí. Sau đó vài tuần một toán Biệt Hải khác thay thế đã thành công một chuyến công tác hết sức ngoạn mục. Ðột kích chớp nhoáng vào Bộ Chỉ Huy Liên Tỉnh miền Tây của Việt Cộng bắt được tên chỉ huy cao cấp, chuyên phụ trách ngành tình báo trung ương vùng IV do Mặt Trận Giải Phóng miền Nam gửi xuống Mỹ Tho hoạt động (Bài viết “Bóng đêm với sứ mạng”). Chứng tỏ các công tác Biệt Hải trong thời điểm đó ít nhiều đã giúp căn cứ Ðồng Tâm-Mỹ Tho, giảm bớt phần nào các đợt pháo kích hoặc những phá hoại của các toán du kích Việt Cộng nằm vùng.&lt;br /&gt;Ðặc biệt trong khoảng thời gian giữa Tháng Tám năm 1969, các toán lại thay phiên biệt phái vào hoạt động công tác tại đầm Thị Nại còn gọi là đầm sình lầy bên bán đảo Qui Nhơn, bắn chìm được vài ghe thuyền chở đồ tiếp tế vào trong khu đầm sình lầy Việt Cộng. Những chuyến tiếp theo, các toán nằm đợi phục kích đã triệt hạ được một số giao liên ban đêm từ bên bán đảo tìm cách vượt sông để qua thành phố Qui Nhơn liên lạc. Khu sình lầy do du kích Việt Cộng bám giữ khoảng cách căn cứ hải quân Hoa Kỳ không xa nên thường hay gây bất ổn cho căn cứ. Nhận thấy lối đánh du kích Biệt Hải có phần thành công nên sau này cấp chỉ huy Việt-Mỹ lại thay phiên đưa các toán Biệt Hải vào Nam hoạt động những nơi như Cửa Việt, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Năm Căn, Cái Nước, Vĩnh Gia (Kinh Vĩnh Tế), Thất Sơn (Châu Ðốc), Chi Lăng, Hà Tiên và đổ bộ Hoàng Sa năm 1974...&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2533462898413902860-8781109294143520450?l=biethai.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://biethai.blogspot.com/feeds/8781109294143520450/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/nhung-chuyen-cong-tac-giai-cuu-tu-binh.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/8781109294143520450'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/8781109294143520450'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/nhung-chuyen-cong-tac-giai-cuu-tu-binh.html' title='Những chuyến công tác giải cứu tù binh bất thành từ năm 1969-1971'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJt5cN3vI/AAAAAAAAFW8/Ry0TS5A9rRg/s72-c/llhtso1j.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2533462898413902860.post-1068752447419312141</id><published>2009-07-28T22:56:00.001-07:00</published><updated>2009-07-28T22:56:49.804-07:00</updated><title type='text'>Người ra biển Bắc- Nguyễn Thanh Hòai</title><content type='html'>&lt;strong&gt;LTS.- Ngày 22 Tháng Bảy tới đây, Gia Ðình Biệt Hải sẽ cử hành lễ giỗ lần thứ 5 các tử sĩ thuộc Gia Ðình Biệt Hải. Vào dịp này, ban tổ chức đã cho phát hành “Ðặc san Biệt Hải” với những tài liệu và hồi ức có giá trị. Chúng tôi trích đăng “Người ra biển Bắc” của Nguyễn Thanh Hoài:&lt;br /&gt;(Một nén hương cho người Biệt Hải Nha Kỹ Thuật đã hy sinh trên biển Bắc năm 1964: Hạ Sĩ Vũ Văn Giới)&lt;br /&gt;Ðầu năm 1964, trong một buổi họp giữa Sở Phòng Vệ Duyên Hải (SPVDH) và cơ quan đối nhiệm CSD (Combined Studies Division) tại trụ sở tạm thời của sở tại 52 Bạch Ðằng-Ðà Nẵng, cơ quan đối nhiệm yêu cầu SPVDH thực hiện một công tác phá hoại các chiến đỉnh SWATOW của hải quân Bắc Việt tại Ðồng Hới.&lt;br /&gt;Toán biệt hải của SPVDH đã được tuyển mộ và huấn luyện từ hai năm trước, ráo riết thực tập với sự huấn luyện của các huấn luyện viên SEAL của Hoa Kỳ. Toán này, lấy tên là toán Neptum gồm có 4 nhân viên: 3 nhân viên dân chính theo hợp đồng và một quân nhân thuộc QLVNCH. Kế hoạch hành quân được phối hợp soạn thảo giữa Bộ Chỉ Huy SPVDH và cơ quan CSD Hoa Kỳ. Các không ảnh thường xuyên được cơ quan đối nhiệm cung cấp để cập nhật hóa và chuẩn bị huấn luyện theo nhu cầu của mục tiêu. Căn cứ vào lệnh hành quân, các thành phần liên hệ đều đã chuẩn bị chu đáo... kể cả phần trang bị đặc biệt.&lt;br /&gt;Một buổi chiều hạ tuần Tháng Ba, 1964, cơ quan đối nhiệm trao cho SPVDH một không ảnh vừa chụp được gồm 6 chiến đỉnh SWATOW đang thả neo tại cửa biển Quảng Khê (Quảng Bình). Kế hoạch hành quân được soạn thảo chi tiết và chuẩn bị thuyết trình. Theo kế hoạch, lực lượng hành quân gồm 3 thành phần: chuyển vận, yểm trợ và hành động:&lt;br /&gt;- Thành phần chuyển vận: có nhiệm vụ đưa toán từ căn cứ xuất phát đến điểm thả. Thành phần này do phía cơ quan đối nhiệm phụ trách gồm 1 chiến đỉnh SWIFT, thủy thủ đoàn do thuyền trưởng người Mỹ và 4 thủy thủ người Việt Nam.&lt;br /&gt;- Thành phần yểm trợ: do toán Biệt Hải Cumulus đảm trách gồm toán trưởng và 4 nhân viên biệt hải. Ngoài phần vũ khí và trang bị cá nhân, toán dùng một thuyền cao su có gắn máy để đưa thành phần hành động từ tàu mẹ (SWIFT) vào cách bờ chừng 1 cây số và thả toán theo giờ ấn định. Sau khi thả toán hành động xong, thành phần yểm trợ trở ra vùng hoạt động chờ và đón thành phần hoạt động sau khi hoàn thành công tác và trở ra biển. Thành phần hành động sẽ dùng đèn bấm và hồng ngoại tuyến để liên lạc.&lt;br /&gt;- Thành phần hành động: gồm 4 nhân viên biệt hải thuộc toán Neptum. Ngoài phần trang bị cá nhân của một người biệt hải, mỗi nhân viên đều được trang bị 4 quả mìn loại “LIMPET” với ngòi nổ chậm đã được điều chỉnh từ trước để gắn vào tàu Bắc Việt.&lt;br /&gt;Rồi một điều đáng tiếc xảy ra, trước khi trưởng công tác thuyết trình lần chót và trưởng toán tái thuyết trình cho toán thì trưởng toán Hoàng Thành bị bệnh bất ngờ nên phải ở lại. Toán phó Vũ Văn Giới thay toán trưởng đảm nhiệm công tác. Ngày N giờ G được ấn định xong. Lực lượng hành quân tới khu cấm bằng hai xe Dodge để xuống căn cứ xuất phát tại bến tàu Tiên Sa:&lt;br /&gt;- Thành phần hành động được tháp tùng bởi trưởng công tác (Case Officer).&lt;br /&gt;- Thành phần yểm trợ được tháp tùng bởi trưởng trại Mỹ Khê.&lt;br /&gt;- Thành phần vận chuyển do cơ quan đối nhiệm phụ trách.&lt;br /&gt;Khi lực lượng hành quân xuống đến bến tàu, Thiếu Tá Ngô Thế Linh, chỉ huy trưởng SPVDH, vị đại diện NKT và phía đối nhiệm đã có mặt đầy đủ và thủy thủ đoàn SWIFT cũng đã sẵn sàng. Thiếu Tá Linh bắt tay từng chiến hữu một, khuyến khích từng anh em kể cả thủy thủ đoàn. Ðúng giờ xuất phát, chiếc SWIFT rời hải cảng Ðà Nẵng tiến về phía bóng đêm miền biển Bắc... Theo cuộc giải trình hành quân với thành phần yểm trợ thì được biết như sau:&lt;br /&gt;Khi đến gần địa điểm thả ấn định, thuyền trưởng SWIFT cho lệnh thả thuyền cao su và cả hai thành phần xuống thuyền. Ðến điểm thả, thuyền trưởng cho lệnh cắt dây. Toán trưởng yểm trợ cho thuyền cao su tiến vào bờ theo hướng ấn định. Khi cách bờ ước chừng 1 cây số, toán trưởng CUMULUS thả 3 nhân viên hành động để thành phần này tiến vào mục tiêu. Toán yểm trợ quay thuyền trở ra khơi, di chuyển trong vùng hoạt động để chờ và vớt các nhân viên hoạt động. SWIFT chờ ngoài khơi và quan sát cửa Quảng Khê bằng hồng ngoại tuyến. Thời gian trôi qua, thuyền cao su cứ chạy lên chạy xuống mãi mà chẳng thấy đèn báo hiệu của 3 nhân viên hành động. Mãi cho đến hừng đông, khi mặt trời đã nhô lên khỏi mặt biển ở hướng Ðông và một số thuyền của ngư dân Bắc Việt đã ra khơi. Với sự tuyệt vọng cùng cực, thành phần yểm trợ buộc phải ra tàu mẹ để trở về căn cứ xuất phát.&lt;br /&gt;Ðầu năm 1965, báo Việt Ngữ xuất bản tại Sài Gòn đăng một bản tin ngắn như sau:&lt;br /&gt;“Theo đài Hà Nội thì Bắc Việt bắt được 3 ‘gián điệp’ của miền Nam tại cửa biển Quảng Khê. Những ‘gián điệp’ này thuộc trại Mỹ Khê. Một trong 3 ‘gián điệp’ chống đối và tìm cách chạy thoát ra biển nên đã bị bắn chết tên là Nguyễn Văn Giới. Hai ‘gián điệp’ bị bắt đều bị tòa án Hà Nội xử kín.”&lt;br /&gt;Ðã hơn 30 năm qua, cuộc đời cá nhân tôi có quá nhiều biến đổi và thăng trầm, kể cả những tháng năm chịu đựng sự đày đọa trong ngục tù Cộng Sản. Những lúc nằm một mình hồi tưởng lại những ngày phục vụ tại Nha Kỹ Thuật, nhớ đến những bạn bè, chiến hữu cùng chịu cảnh tù đày, những anh em cùng gia đình đang sống bên kia bờ Thái Bình Dương, những chiến hữu đã hy sinh vì Tổ Quốc... bao giờ hình ảnh của Vũ Văn Giới cũng hiện lên đậm nét trong tâm hồn tôi. Bởi lẽ, tôi là “trưởng công tác” cùng sinh hoạt với toán trong thời gian dài... Với tinh thần bất khuất, anh đã chiến đấu trong lòng địch cho đến giờ phút chót, chấp nhận hy sinh hơn là để lọt vào tay quân thù.&lt;br /&gt;Trung Úy Nguyễn Thanh Hoài là “trưởng công tác” của toán Neptum trong thời điểm đầu năm 1964.&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2533462898413902860-1068752447419312141?l=biethai.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://biethai.blogspot.com/feeds/1068752447419312141/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/nguoi-ra-bien-bac-nguyen-thanh-hoai.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/1068752447419312141'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/1068752447419312141'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/nguoi-ra-bien-bac-nguyen-thanh-hoai.html' title='Người ra biển Bắc- Nguyễn Thanh Hòai'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2533462898413902860.post-5585332162601236718</id><published>2009-07-28T22:53:00.000-07:00</published><updated>2009-07-30T14:07:20.421-07:00</updated><title type='text'>Chuyến giải cứu phi công Hoa Kỳ lần thứ III</title><content type='html'>&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJY8dj7EI/AAAAAAAAFWk/6csR6QJKfoo/s1600-h/ptfdnang.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5364360430303308866" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 393px; CURSOR: hand; HEIGHT: 209px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJY8dj7EI/AAAAAAAAFWk/6csR6QJKfoo/s400/ptfdnang.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJT9lrcRI/AAAAAAAAFWc/JtKVEyLGZ1w/s1600-h/llhtcau.gif"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5364360344706445586" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 394px; CURSOR: hand; HEIGHT: 176px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJT9lrcRI/AAAAAAAAFWc/JtKVEyLGZ1w/s400/llhtcau.gif" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#000066;"&gt;&lt;em&gt;Chuyến giải cứu phi công Hoa Kỳ lần thứ III tại Quốc Lộ 9, Quảng Trị, Tháng Tư, 1972 (Mùa Hè Ðỏ Lửa)&lt;br /&gt;Monday, July 23, 2007&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Ðể tưởng nhớ về các chiến hữu đang sống lây lất cùng cực trên quê hương thân yêu)&lt;br /&gt;LTG.- Thời gian đã trôi qua trên ba mươi năm nên trí nhớ phần nào mai một theo tuổi tác. Bài hồi ký được viết bằng trí nhớ và với chứng kiến của một số bạn bè trong một cuộc góp ý. Ngoài cố vấn Tom Norris UDT Seal ra, các nhân viên toán Biệt Hải tham dự trong chuyến “BAT- 21” hiện tất cả còn sống: Một ở Việt Nam, một ở Úc Châu và ba tại Hoa Kỳ, kể cả tác giả. Tuy nhiên, vấn đề thời gian trong các đoạn viết không được chính xác lắm, mong các bạn tham gia trong chuyến sẵn lòng tha thứ và giúp bổ khuyết. Chúng tôi hi vọng các chiến hữu đại đội thuộc Sư Ðoàn 3 Bộ Binh ở tiền đồn, những người đã góp phần và chứng kiến công tác Biệt Hải giải cứu phi công Hoa Kỳ tại sông Hiếu Giang thuộc cực Bắc Cam Lộ, Quảng Trị Tháng Tư năm 1972 sẽ đọc được bài này. Và không quên cám ơn huynh trưởng Trần Ðỗ Cẩm giúp cung cấp một số tài liệu để nội dung phong phú, chính xác hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phong Trần&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Hồi ký)&lt;br /&gt;Trên bàn vài đĩa mồi nóng hổi đang bốc khói tỏa mùi thơm ngào ngạt bay tận ngoài ngõ đặt cạnh một lít rượu đế trong chai đã vơi gần hết hai phần và một cái cốc nhỏ dùng rót rượu uống chung. Chứng tỏ nãy giờ mọi người có mặt quanh bàn chuyền tay uống khá nhiều đợt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một buổi sáng Chúa Nhật thường lệ chúng tôi từ Trại 9 Blackrock nổi hứng rủ nhau về họp tại nhà Nguyễn Châu cả thảy năm đứa. Ngoài tôi và Châu, ba tên còn lại thuộc đám bạn bè thân quen hiện đang phục vụ trong các toán Biệt Hải.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào các ngày cuối tuần hầu như chúng tôi đều được rảnh rỗi, trừ trường hợp toán lên phiên trực hay đi công tác mà thôi. Chúng tôi có thói quen thường rủ nhau về nhà anh chị Nguyễn Châu tụ họp như thông lệ của những thằng độc thân chúng tôi. Ðặc biệt, Châu có biệt tài chế biến đồ nhậu không thua kém hàng quán là bao nên càng hấp dẫn. Xét về tuổi tác, Châu lớn hơn tất cả và có nhiều năm thâm niên hoạt động công tác xâm nhập (bắt đầu từ năm 1963), cộng thêm bản tính hiền lành điềm đạm. Vợ con anh rất quí bạn của chồng nên mỗi khi chúng tôi có dịp lui tới là gia đình vui vẻ thân mật. Tuy mọi người không hoạt động chung toán nhưng tất cả hạp tính tình nên thích thú mỗi lần có dịp họp mặt tại nhà anh chị Nguyễn Châu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn nhớ, ngày 8 Tháng Tư năm 19 72 lúc 11 giờ trưa Chúa Nhật, bất chợt một chiếc xe Jeep do tài xế Hạ Sĩ Nhất Tư từ Bộ Chỉ Huy chạy tới đột nhiên thắng lại đậu ngay trước cổng nhà Nguyễn Châu. Chúng tôi nhìn ra thấy tài xế lật đật xuống xe với dáng bộ khẩn cấp vội vã đi vào, trong khi cả bọn đùa giỡn chuyện trò những mẩu chuyện phiếm lượm lặt kể cho nhau nghe qua hơi men chếch choáng, đột nhiên thấy sự xuất hiện của Tư làm không khí cuộc vui bỗng nhiên khựng lại. Mọi người lầm tưởng hôm nay Tư cũng lang thang tìm vui như bọn tôi nên lái xe nhập bọn giải khuây cuối tuần.&lt;br /&gt;Trong số anh em có đứa nhanh chóng kéo ghế mời ngồi nhưng Tư vội vàng từ chối và tiến tới cạnh tôi và Châu cho biết được lệnh lái xe về đây gọi tôi và Châu phải tới trình diện gấp Bộ Chỉ Huy để nhận công tác ngay buổi chiều nay. Chính anh sẽ chở cả hai chúng tôi tới. Nghe xong lệnh mọi người bàng hoàng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Riêng tôi vì đang lưu luyến cuộc vui nên tỏ thái độ bất mãn vội lên tiếng chửi thề và tiếp: - Không hiểu đi đâu gấp thế? Hôm qua tao có mặt nguyên ngày trong trại có nghe lệnh lạc gì đâu?&lt;br /&gt;Mặc dầu vậy, tôi và Châu cùng anh em trong bàn vội đứng dậy nâng ly cuối cùng trước khi chia tay. Có những ý nghĩ vẩn vơ thoáng qua biết đâu đây là lần (..?)khiến lòng hồi hộp lo âu. Trước đây tôi từng chứng kiến bạn bè, sau buổi chia tay thế nầy trước sau lần lượt không ngày trở lại. Nghĩ thân phận của người lính trong hoàn cảnh chiến tranh hết sức nguy hiểm hồi hộp, đặc biệt đối với những thằng đi toán chúng tôi “buổi chiều thấy còn, nhưng đêm đã khuất ” nào ai biết được!&lt;br /&gt;Trong tình cảm của Nguyễn Châu cũng ít nhiều bịn rịn vợ con. Dẫu gì anh cũng tìm mọi cách trấn an gia đình giữa lúc bạn bè sum họp vui vẻ tại nhà. Thử hỏi người vợ nào yên lòng khi thấy người chồng thân yêu của mình ra đi đột xuất giữa thời chinh chiến. Riêng tôi thân phận độc thân nên chẳng vương vấn điều gì! Thế rồi phút giây bịn rịn của Châu với gia đình qua mau, hai đứa tôi ngoan ngoãn như những trẻ thơ vội nối gót theo chân của người tài xế ra xe rồi cả hai leo lên ngồi gọn ở hàng ghế sau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con đường từ nhà Châu đến kho đạn Yên Thế chỉ độ hơn một cây số. Trên mặt đường đầy sỏi đá lổn nhổn lại nhiều vũng nước nhưng tài xế với gương mặt lạnh lùng gia tăng tốc độ như để cố bắt kịp thời gian giúp chúng tôi đến trình diện đúng giờ khiến chiếc xe chòng chành qua lại chồm tới phía trước một cách miễn cưỡng như con ngựa chứng.&lt;br /&gt;Khi xe chuẩn bị băng ngang qua cổng Trại Yên Thế (kho đạn) người tài xế vội vàng vặn hết tay lái rẽ sang hướng trái, điều khiển chiếc Jeep nhẹ nhàng phóng trên đường tráng nhựa thẳng vào Bộ Chỉ Huy Trại 9 Blackroc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi rất thắc mắc từ lúc Hạ Sĩ Nhất Tư cho biết nên xoay qua phía Châu hỏi nhỏ: - Anh có biết công tác hôm nay thuộc loại nào không? Giữa lúc tiếng động cơ chiếc xe đang hồi gầm thét cộng thêm tiếng gió ồn ào đập vào thành cửa theo vận tốc của chiếc Jeep trên đà phóng tới nhưng vẫn nghe rõ mồn một từng lời do Châu thuật lại từ đầu câu chuyện:&lt;br /&gt;Cách đây mấy ngày trong đêm tổ chức mãn khóa 1/72 Biệt Hải ra trường ở Câu Lạc Bộ Camp Fay, khi tiệc nửa chừng có lẽ quá vui tao thấy Ðại Úy Thọ đứng giữa anh em nói lớn: “Lần nầy thằng nào muốn chết cứ việc theo tao, ngoại trừ thằng Châu.” (Châu lúc ấy đang phụ trách huấn luyện khóa Biệt Hải 1/72. Trong số khóa sinh có Ðại Úy Thọ và K.). Chờ cho tiệc sắp tàn, tao tìm cách gặp riêng Ðại Úy Thọ hỏi và được ông cho biết sơ qua về chuyến công tác cứu phi công Hoa Kỳ. Sẵn đó tao giới thiệu mầy đi có anh có em cho vui. Còn ngày giờ khởi hành tao hoàn toàn không biết. Hơn nữa vì lý do an ninh nên không hỏi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghe xong tôi lặng người giây lát. Tất cả mọi thắc mắc trăn trở từ nãy như được Châu hóa giải. Nghĩ thân tình giữa tôi và Châu từ khi quen biết cho đến hôm nay, bất cứ chuyện buồn chuyện vui hai đứa đều tìm nhau san sẻ khiến tôi hết sức cảm mến và càng quí anh nhiều hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai đứa có mặt tại phòng họp Ban Chỉ Huy Trại 9 đúng 12 giờ trưa. Lúc nầy tất cả nhân viên tham dự đều hiện diện đầy đủ ngoại trừ hai thằng tôi tới trễ. Chúng tôi tiến đến trình diện Ðại Úy Thọ xong rồi tìm chỗ ngồi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhìn thấy ông đang đứng trước tấm bảng đen, còn anh em ngồi dưới đều chú tâm lắng nghe thuyết trình công tác và phân chia phận sự của toán thi hành ngày mai. Theo lời toán trưởng chuyến công tác sắp tới thuộc loại xâm nhập đặc biệt: Tìm cách giải thoát cho một số phi công người Mỹ đang lâm nạn trong vùng kiểm soát của địch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời gian qua, máy bay Hoa Kỳ thi hành các phi vụ thám thính, một số đã bị phòng không Cộng Sản Bắc Việt bắn rớt thuộc không phận cực Bắc Quảng Trị. Hai phi công đều nhảy dù xuống dưới đất an toàn. Hiện họ đang ẩn trốn trong vùng dọc theo quốc lộ 9 phía Bắc sông Cam Lộ (còn có tên khác là Hiếu Giang), Quảng Trị. Vùng nầy thuộc địch bố trí và kiểm soát chặt chẽ. Hai phi công lẩn trốn dưới đất vẫn tìm cách liên lạc vô tuyến với các máy bay thám thính “L19” trên không vào mỗi đầu giờ. Bởi thế đã có nhiều phi vụ bí mật thả những thùng đồ ăn “Ration C” xuống đất tiếp tế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tới đây trưởng toán Thọ nhấn mạnh và nhắc nhở anh em hãy tránh xa mỗi khi trông thấy những thùng “Ration, C”. Lý do trong đó một số đồ hộp đã được cơ quan gài sẵn chất nổ rất ư nguy hiểm. Chỉ riêng phi công mới biết ám số an toàn các loại thực phẩm dành riêng cho họ mà thôi. Mục đích để đề phòng trường hợp các cán binh Cộng Sản tìm cách thu nhặt để sử dụng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếp đến trưởng toán Thọ đến trước một tấm bản đồ chỉ vào các điểm đóng quân để giúp mọi người nhận định rõ các vị trí đóng quân của hai phía “địch - bạn” trong vùng phạm vi trách nhiệm mà toán sắp tới hoạt động. Hiện trên tiền đồn Lô Cốt đang có một đại đội thuộc Sư Ðoàn 3 Bộ Binh QLVNCH đóng quân. Vị trí tính từ địa điểm lô cốt của quốc lộ 9 nhìn ngược hướng Tây Bắc Khe Sanh, kể cả hướng Ðông Bắc bên kia sông Cam Lộ xuyên thẳng ra phía Cửa Việt (Duyên đoàn 16 trước đây của Hải Quân QLVNCH nay bỏ ngõ). Chúng tôi nhìn thấy nhiều ngôi sao màu đỏ tô đậm nét mọc lên san sát, biểu tượng các nơi đóng quân các sư đoàn Bắc Việt. Phần kia có các ngôi sao màu xanh lá cây nằm hướng Ðông Nam là dấu hiệu xác định vùng trách nhiệm của Sư Ðoàn 3 Bộ Binh trấn đóng thì có phần thưa thớt hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bởi thế một số anh em tỏ ra phân vân khi thấy các vị trí đóng quân trên mặt bản đồ. Tôi liên tưởng lại quãng thời gian Tháng Mười Một năm 1971 trong chuyến công tác giải cứu người lính của đơn vị Lực Lượng Ðặc Biệt Mỹ (người Porto Rico) ở mật khu vùng U Minh Hạ, Cà Mau trước đây (bài Những chuyến công tác cứu tù binh bất thành) càng thêm ưu tư chuyến đi lần này. Lý do cao độ cuộc chiến “Mùa hè đỏ lửa 1972” khác xa rất nhiều. Hơn nữa chuyến công tác U Minh Hạ quân số tham dự khá đông, có tới 21 nhân viên trong đó có 3 cố vấn. Ngược lại lần này vỏn vẹn chỉ 5 nhân viên Biệt Hải cộng cố vấn Tom Norris.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyến này tôi được cấp trên chỉ định làm tiền sát viên dẫn toán đi đầu xâm nhập mục tiêu (mỗi lần xâm nhập đường biển hoặc đường bộ miền Bắc hay miền Nam bổn phận tiền sát phải đi trước dò đường). Chức vụ này đã lắm phen làm tôi hú vía về tính chất hiểm nguy. Những ấn tượng mìn bẫy hoặc có thể làm bia cho địch bắn sẻ cứ ám ảnh tôi như hình với bóng trong mỗi lần công tác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời gian còn phục vụ chung với cố trưởng toán Miễn, thỉnh thoảng gặp nhau ở câu lạc bộ Camp Faye cuối tuần, thừa lúc rượu vào lời ra tôi hay bông đùa: Bộ ông muốn thằng em của ông sớm về bên kia thế giới gặp lại bạn bè hay sao? Nhận thấy nhân sự tiền sát viên đi đầu không hề thay đổi, chẳng những ông không giải quyết mà còn trả lời vắn gọn: - Ð.M. Tao nghĩ số mầy sống lâu hạp với nghiệp tiền sát nên chuyến nào anh em cũng về đầy đủ. Sau nầy trưởng toán Phan Văn đáng cũng thế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kể từ đó tật phân bua của tôi tự dưng biến mất trong mỗi lần gặp gỡ lại ông. Rồi tự lòng an ủi: “Mầy phải thi hành theo lệnh” hoặc khi mãn hạn hợp đồng (khế ước) sẽ không ký thêm.&lt;br /&gt;Nhớ lại buổi thuyết trình về chuyến công tác hôm ấy sắp kết thúc chợt nghe trưởng toán Thọ lớn tiếng hỏi : Ai có ý kiến gì nữa không? Mọi người trong phòng nhìn nhau nín thinh, có nghĩa hiện tất cả đã thấu hiểu không còn gì để hỏi nữa. Tiếp đến ông bảo anh em qua bàn bên cạnh ghi lại địa chỉ thân nhân rõ ràng khi cần cấp báo đồng thời chờ lãnh thêm một số quân trang cần thiết cho chuyến công tác ngày mai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hành trang gồm có: Hai bộ kaki màu xanh cứt ngựa, loại quân chính quy Bắc Việt thường mặc, hai dây lựu đạn Mini, giày ba ta, flaigun (súng hỏa châu loại lớn hơn cây viết) gồm sáu viên đạn có dây đeo vào cổ, một hay hai bộ còng số 8 và đồ ăn cá nhân C. ration đựng trong bịch Aluminum màu nâu đủ dùng bốn ngày. Ngoại trừ súng cá nhân AK 47 và bốn băng đạn lắp đầy kèm theo áo phao, chân nhái...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Buổi chiều hôm đó mọi người chuẩn bị xong xuôi liếc nhìn đồng hồ đến giờ cơm chiều anh em thuận đường tất cả kéo xuống phòng ăn. Sau buổi cơm trở lại phòng ngủ nằm nghỉ xả hơi, tập trung tinh thần cho sáng ngày mai vì mọi người phải thức dậy sớm.&lt;br /&gt;Hôm sau, ngày thứ hai mùng 9 Tháng Tư năm 1972 lúc 4 giờ 30 sáng, tất cả thành phần tham dự có mặt đầy đủ và sẵn sàng đợi trước sân cờ Bộ Chỉ Huy Trại 9. Hai chiếc máy bay trực thăng do phi hành đoàn người Hoa Kỳ lái không biết từ đâu bay tới có nhiệm vụ bốc toán đáp xuống giữa sân cờ. Ðến phiên mọi người tuần tự nối đuôi leo lên phi cơ ngồi vào vị trí. Tất cả hàng ghế treo toòng teng phía sau lưng hai cây đại liên, cùng lúc hai xạ thủ phi công chia nhau tiến lại chỗ của từng người để kiểm soát dây an toàn trước khi máy bay cất cánh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong số có hai cố vấn Hoa Kỳ là Trung Tá Anderson thuộc cơ quan tiếp cứu (JPRC) của phòng 2 MacSog 80 từ Sài Gòn ra và Ðại Úy Tom Norris UDT SEAL (hiện Norris đang làm cố vấn Biệt Hải) đã có mặt trong máy bay trực thăng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về phần nhân viên toán kể cả hành trang cá nhân được chia đều đặt gọn ghẽ trong lòng mỗi chiếc máy bay. Ít phút sau cả hai trực thăng cất cánh bay lên không trung vào lúc năm giờ sáng. Khi máy bay ở trên vị trí cao độ ổn định mọi người cảm thấy se lạnh do cơn gió sáng sớm tinh sương thổi tới. Một phần hai cửa máy bay mở toang để giúp xạ thủ nhìn xuống dưới đất quan sát, trên tay ghìm sẵn cây đại liên sáu nòng sẵn sàng lảy cò.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên máy bay lúc nầy có dịp nhìn xuống thấy hình ảnh thân yêu của thành phố Ðà Nẵng về sáng, quê hương thứ hai nơi nuôi tôi lớn khôn. Từ khi rời chốn chôn nhau cắt rốn theo gia đình vào Nam trong đợt di cư chia cắt đất nước năm 1954 đến hôm nay trưởng thành gia nhập Lực Lượng Biệt Hải. Hiện thời đơn vị đóng tại bán đảo Sơn Trà chỉ cách Nhượng Nghĩa làng tôi hơn nửa giờ xe đò, giờ nầy phố phường Ðà thành vẫn chìm giấc ngủ dưới lớp mù sương. Ðó đây loe hoe vài ngọn đèn đường lúc ẩn lúc hiện tỏa ra một thứ ánh sáng vàng nhạt. Khi ngoài chiến trường từng phút từng giây sôi động vẫn có nhiều người âm thầm xông pha trên tuyến đầu quyết giữ gìn bờ cõi chống lại Bắc quân trong số có năm người lính Biệt Hải chúng tôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Qua mấy giờ bay hai chiếc trực thăng nhanh chóng bỏ lại Ðà thành sau lưng rồi cánh chim bằng lần lượt băng qua thành phố Huế và tới không phận Quảng Trị lúc 7 giờ 30 sáng. Tại đây, một lần nữa, lợi dụng lúc máy bay lòng vòng chờ lệnh trên cao độ, tôi được dịp tò mò nhìn xuống phía dưới vô tình trông thấy nhiều cảnh tàn phá của chiến tranh hiện ra, tựa như bức tranh “điêu tàn” do người họa sĩ tài danh sáng tác. Chung quanh các làng xã đều tiêu điều xơ xác do trăm ngàn hố bom lớn nhỏ đào xới ngổn ngang đã biến cả vùng đất màu mỡ trước kia nay trở thành nơi hoang phế.&lt;br /&gt;Ðó đây nhiều cụm khói sót lại bốc lên tỏa mùi khét lẹt, phát xuất từ những căn nhà xiêu vẹo còn cháy dở dang bởi những đợt pháo kích qua lại của đôi bên, đủ để biết tình hình hiện ở đây đang chịu áp lực nặng nề của phía Bắc quân. Cùng lúc phi công Hoa Kỳ nhận lệnh từ phía dưới, tuần tự đáp xuống rồi đậu trên khoảng đất trống gần sân cờ Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Ðoàn 3 Bộ Binh.&lt;br /&gt;Khi càng của trực thăng chấm đất chúng tôi mang hết dụng cụ, súng đạn liền rời khỏi trực thăng đi vào một góc sân trước mặt Bộ Chỉ Huy Tiền Phương tìm chỗ ngồi chờ đợi. Riêng Trung Tá Anderson, Ðại Úy Tom Norris và trưởng toán Thọ đi vào phòng hành quân để họp bàn với Bộ Tư lệnh Tiền Phương vùng hỏa tuyến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả cảnh tượng vừa trông thấy đã giúp chúng tôi nhanh chóng hình dung được sự hiểm nguy xẩy ra trong những giờ kế tiếp. Tuy lúc nầy bốn chúng tôi đang ngồi sát nhau nhưng mỗi người hình như suy nghĩ khác nhau. Vài anh châm thuốc hút để trấn an tinh thần thói quen mỗi khi đối diện nghịch cảnh. Trước mặt cổng Bộ Chỉ Huy Tiền Phương là quốc lộ I chạy vào phía Nam của thành phố Huế. Bên kia đường hằng trăm lều vải màu trắng của cơ quan Hồng Thập Tự dựng lên san sát có thứ tự. Ðó là nơi chỗ tạm trú của dân tỵ nạn nhiều vùng thôn quê chạy về ẩn tránh.&lt;br /&gt;Suốt thời gian mọi người ngồi ngoài chờ đợi trưởng toán vào họp, bất chợt một cấp chỉ huy đi qua có lẽ vì hiếu kỳ nên ông dừng ngay chỗ chúng tôi rồi hỏi: - Các anh có phải chiêu hồi không? vì quân phục và trang bị của chúng tôi rất giống bộ đội cộng sản). Tất cả đứng dậy chào trả lời không phải. Ông hỏi tiếp: - Thế đơn vị các anh ở đâu ra đây có nhiệm vụ gì?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Thưa thẩm quyền chúng tôi thuộc Lực Lượng Biệt Hải Sở Phòng Vệ Duyên Hải Nha Kỹ Thuật, tất cả xuất phát từ Ðà Nẵng được lệnh ra đây giải cứu các phi công Hoa Kỳ lâm nạn.&lt;br /&gt;Nghe xong ông lắc đầu tỏ dấu hoài nghi vấn đề giải cứu phi công. Rồi ông cho biết tình hình sơ qua mà các phi công Hoa Kỳ hiện đang gặp phải. Trước đây đã có rất nhiều đơn vị dồn hết nỗ lực tìm cách cứu cấp nhưng mọi việc không thành ngược lại mang nhiều tổn thất. Như để kết thúc câu chuyện tâm tình (vài anh em đến nay vẫn còn nhớ tên “H.” của ông may trên túi áo), ông nói: - Các phi công Hoa Kỳ này cũng giống những người đã chết hiện đang được người sống cố tình nhắc nhở vinh danh, mục đích khích lệ tinh thần người khác sẵn sàng chiến đấu. Chứ thật người chết thì làm sao biết người sống hiện đang làm gì cho họ. Ðồng thời ông cho biết những giờ sắp tới có một chiếc thiết giáp M-113 chạy đến chở các anh ra điểm công tác. Hiện tình hình quanh vùng rất nguy hiểm không thể sử dụng phương tiện trực thăng vì phòng không của chúng dầy đặc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi chia tay ông không quên cầu chúc anh em chúng tôi mau sớm thành công được an bình trở về. Cùng lúc chúng tôi trông thấy trưởng toán Thọ và hai cố vấn Hoa Kỳ từ trong phòng hành quân đi ra - lúc đó khoảng 10 giờ sáng - tiến lại chúng tôi cho biết tất cả sẵn sàng lên một chiếc thiết giáp M-113 sắp chạy tới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời gian đứng chờ phương tiện, bạn Lê Thanh Tất may mắn gặp được một người bà con tên Dương Ðịnh. Anh nầy cũng học khóa Biệt Hải với tôi trước đây bị rớt vì không qua nổi tuần địa ngục (huấn nhục). Anh đang phục vụ trong đơn vị Kỵ-Binh-Thiết giáp trấn đóng vùng địa đầu Quảng Trị. Trong phút giây ngắn ngủi cả ba chúng tôi không hẹn mà gặp. Ðịnh nhanh nhẹn mở đầu câu chuyện: - Sở dĩ biết được bọn bay sắp sửa ra vùng công tác là nhờ mấy thằng bạn ở M-113. Lát nữa đây chính bọn nó sẽ chở toán Biệt Hải tụi bây ra vùng hoạt động. Nghe đến tên Biệt Hải tao vội tìm tới không ngờ may mắn gặp lại hai thằng mầy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi không bỏ lỡ câu chuyện, Ðịnh thao thao bất tuyệt về tình hình quanh vùng hết sức sôi động vì áp lực Cộng quân mỗi ngày trở nên nặng nề. Bọn mầy đi chuyến nầy phải hết sức cẩn thận đề phòng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nãy giờ tôi đứng lặng thinh lắng nghe lời Ðịnh nói bây giờ mới lên tiếng hỏi lại: - Thế còn mầy ra đây lâu chưa? Ðịnh trả lời vắn tắt: - Từ khi tao rời Biệt Hải rồi gia nhập Thiết Kỵ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi bắt tay từ giã hắn quay sang phía Tất bồi thêm: - Ð.M. Không hiểu sau lần nầy tao còn cơ hội gặp lại hai thằng mầy nữa không? Lúc đó ngoài hai đứa tôi còn có Châu cũng đứng cạnh đó.&lt;br /&gt;Câu chuyện trao đổi vắn tắt thế thôi nhưng vô tình đã tác động tâm lý người nghe không ít đặc biệt đối với những người trong cuộc như chúng tôi. Nhưng rồi những ám ảnh ấy vội tan biến khi tiếng động cơ chiếc M-113 đằng xa ầm ĩ chạy tới, mỗi lúc một gần thúc hối mọi người sẵn sàng đứng vào vị thế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khoảng mười một giờ trưa tất cả toán được lệnh lên xe và mang vũ khí, hành trang đặt gọn trong lòng của chiếc thiết vận xa. Sau khi hoàn tất, một kỵ binh đứng ngoài vội vàng khóa chặt cửa lại. Cùng lúc tiếng động cơ M-113 nổ rú lên khiến mùi khói dầu bay ra mù mịt. Những vòng xích từ từ chuyển động liên tiếp xoay quanh mâm sắt bấu xuống mặt đường, chiếc thiết kỵ bắt đầu chuyển động qua khỏi cổng Bộ Tư Lệnh Tiền Phương một cách mệt nhọc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chặng đường lồi lõm quanh co có nhiều dấu bom để lại chiếc thiết kỵ vẫn độc hành như một chàng hiệp sĩ, băng đồi trượt dốc. Thỉnh thoảng nhả ra nhiều cụm khói như cố lấy sức lao đi. Cuối cùng tới được khu xe đậu phía sau lô cốt tiền đồn lúc bốn giờ chiều .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng tôi lần lượt rời khỏi chiếc M-113. Bất ngờ trước mắt hiện lên một quang cảnh hết sức hãi hùng, còn hơn cả buổi sáng mục kích trông thấy các làng mạc chung quanh Bộ Chỉ Huy Tiền phương ở Quảng Trị. Nơi đây mới thật đúng nghĩa vùng đất đã bị chiến tranh hoàn toàn tàn phá. Xa gần không thấy bóng làng mạc ruộng vườn hoặc người qua lại ngay cả loài thú cũng thế. Ðó đây hàng ngàn hố bom cũ mới chằng chịt đào xới đã biến từng gốc cây ngọn cỏ trở thành khô héo nằm vương vãi khắp nơi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước cảnh tượng tang thương xơ xác miền Trung “đất đào lên sỏi đá”, ngoài thiên tai bão lụt hằng năm thì phần còn lại đều do bàn tay chiến tranh tàn phá đến trơ trụi hẳn. Những người hiện diện dù lạnh lùng chai đá độ nào chăng nữa trong phút giây nầy tâm hồn cũng đành lắng đọng chùng xuống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói về địa điểm tiền đồn, là cái lô cốt của Pháp được kiến trúc theo hình bát giác nằm trên đỉnh đồi xây dựng hết sức kiên cố. Chung quanh lô cốt nhiều lỗ châu mai được trổ giúp cho binh sĩ ở trong có thể chiến đấu hoặc quan sát địa thế ở ngoài một cách dễ dàng. Nghe anh em kể lai lịch cái lô cốt nầy là dấu tích của lính Pháp để lại, sau khi Ðiện Biên Phủ thất trận, họ đều cuốn gói ra đi. Hiện được một đại đội của Sư Ðoàn 3 Bộ Binh QLVNCH dùng làm tiền đồn án ngữ với mục đích kiểm soát đoạn đường huyết mạch trên quốc lộ 9 từ Lào ngược về Quảng Trị.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phía dưới chân đồi về hướng Tây Bắc có một cây cầu được bắc ngang trên con rạch nhỏ nối liền hai đầu quốc lộ. Anh em ở đây cho biết công binh phe ta dùng chất nổ TNT giật sập cây cầu nầy mấy ngày trước đó, quyết cản ngăn sức tiến quân từng đoàn xe tăng T54 và T72 của các sư đoàn Bắc Việt hiếu chiến xâm lăng ngày ngày lũ lượt chạy về hướng Nam. Cách đó không xa khoảng mấy trăm thước ở hướng Tây Nam chúng tôi trông thấy sáu, bẩy chiếc T54 và T72, con cháu bác Hồ “sinh Bắc tử Nam” đã bị các đơn vị chúng ta dùng súng cá nhân M.72 bắn cháy. Tất cả biến thành đống sắt bất động ngổn ngang.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các chiến hữu ngậm ngùi kể lại trên xe có một số xạ thủ Bắc quân bị cấp trên của chúng xiềng chân vào các ổ súng. Lúc các tăng T72 hoặc T54 trúng đạn M.72 của ta bắn bị bốc cháy thì những xạ thủ Bắc quân trên xe không thể nào phá còng thoát ra nên tất cả chết cháy thành than trông rất tội nghiệp. Ðồng thời các anh còn đưa chúng tôi xem một số thư từ sách báo của đảng Cộng Sản và của Hội Bà Mẹ Yêu Nước từ miền Bắc gửi vào có mục đích động viên cán binh tham chiến trong Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra, anh em đã tịch thu một số đồ hộp lương khô trong hầm xe tăng Bắc quân. Sau câu chuyện trao đổi tôi may mắn được một chiến hữu tặng lại cuốn nhật ký của một cán binh bộ đội tử trận mà anh tịch thâu được trong số xe tăng bị cháy. Trong cuốn nhật ký người cán binh bất hạnh có bài thơ đầy công thức nhai lại như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ta là núi hiên ngang trên biển cả&lt;br /&gt;Dù sóng to gió cả chẳng phai lòng&lt;br /&gt;Khắp mình ta, máu đào đã nhuộm đỏ&lt;br /&gt;Anh em ta có chết một đôi người&lt;br /&gt;Chết đôi người nhưng để được ngày mai&lt;br /&gt;Quyền lợi chết dành lại cho kẻ sống&lt;br /&gt;Thì chết đó có chi đâu là uổng&lt;br /&gt;Dứt đời đi mà vẫn cứ yên long&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không biết trong số xạ thủ bị cấp trên chúng xiềng chân chết cháy trong các xe tăng có tên của nhà thơ vô duyên nầy không? Bởi bản chất hiếu chiến nên chúng đã gây không biết bao nhiêu thảm họa cho cả dân tộc Việt Nam lâm cảnh lầm than và nghèo đói tới tận giờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói về cấp số của đại đội bộ binh đang đóng chốt tiền đồn có khoảng 80 quân nhân được chỉ huy bởi một trung úy đại đội trưởng gốc Thiếu Sinh Quân thuộc Sư Ðoàn 3 Bộ Binh. Ngoài ra đại đội còn được tăng phái thêm hai xe tăng loại M48 được ngụy trang rất kỹ trong hệ thống phòng thủ chung quanh lô cốt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc anh em bộ binh trông thấy toán Biệt Hải có cả hai cố vấn Hoa Kỳ đến trong buổi chiều thì hầu hết đều phấn khởi vui mừng vì đã tạm thời giúp đơn vị nhanh chóng xóa tan sự bất lợi trong cảnh chiến đấu đơn độc hiểm nguy. Có lẽ anh em đại đội tiền đồn này đang suy nghĩ về những ngày sắp tới nếu gặp chuyện xảy ra hẳn có những vị cố vấn Hoa Kỳ sẵn sàng gọi máy bay hay pháo binh từ ngoài hạm đội bắn vào yểm trợ một cách dễ dàng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Qua mươi phút mọi người đứng ngoài trao đổi tình hình quanh vùng, anh em trong đồn vội hối thúc chúng tôi nhanh chóng chuyển tất cả dụng cụ vào trong lô cốt, vì ngại bọn tiền sát pháo binh của chúng trông thấy. Nghe nói hằng ngày vẫn có chúng bám sát quanh đây rình rập “như mèo vờn chuột”. Vài anh cho biết thêm tình hình sinh hoạt trên tiền đồn và những giờ địch quân thường pháo kích tới thường vào sáng sớm vừa thức dậy chui ra khỏi hầm làm vệ sinh cá nhân, buổi trưa nấu ăn và lúc xế chiều. Ngoài ra còn nhiều đợt pháo khác nếu cảm thấy khả nghi hay được bọn tiền sát viên của chúng gọi về...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi Ðại Úy Tom Norris thấy các nhân viên toán đã sắp xếp xong xuôi chỗ ăn nơi nghỉ, viên cố vấn liền đề nghị trưởng toán Thọ cho toán Biệt Hải xuất phát ngay. Lúc ấy khoảng năm hoặc sáu giờ chiều. Không hiểu suy nghĩ thế nào mà trưởng toán Thọ xoay qua hội ý với Châu (được Châu thuật lại cho biết), có lẽ nghĩ anh hiện là người thâm niên nhất trong toán và được Châu góp ý hoạt động của Biệt Hải xưa nay chỉ chuyên hoạt động công tác về đêm, thành công hay không tất cả dựa vào yếu tố bất ngờ. Nhìn chung tình hình và lộ trình di chuyển hiện tại xem ra không mấy dễ dàng nhất là đang giữa ban ngày, một điều quan ngại hiện quân Bắc Việt quá đông, ước tính cả mấy sư đoàn chính quy từ Bắc mới vào dựa theo nguồn tin tình báo, chúng đang kiểm soát từ Khe Sanh dọc theo hướng Nam trên quốc lộ 9 và cả những vùng lân cận. Toán Biệt Hải nếu như hành động bây giờ trước sau sẽ bị Bắc quân phát giác nhanh chóng bởi những trạm gác hoặc các điểm đóng chốt của chúng trước khi toán Biệt Hải chưa đến mục tiêu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghe lời giải thích hợp lý của Châu nên trưởng toán Thọ nhanh chóng gạt bỏ ý kiến của Tom Norris đề nghị cho toán khởi hành sớm (các công tác Biệt Hải đều do thẩm quyền của trưởng toán Việt Nam quyết định). Riêng anh em còn lại không có ý kiến gì, mọi người đi tìm ba lô mở lấy đồ ăn, giải quyết bao tử trước khi mặt trời chưa lặn.&lt;br /&gt;Ăn uống xong và kiểm lại lần cuối trang cụ cần thiết dùng mang theo, đặc biệt khẩu AK.47 đẩy cơ bẩm cho đạn lên nòng sẵn rồi khóa chốt an toàn cẩn thận và ai nấy xem đó như lá bùa hộ mạng tối nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðứng trên lô cốt nhìn về hướng Tây của Khe Sanh ánh nắng bắt đầu mờ nhạt, mặt trời từ từ lặng lẽ tìm nơi ẩn núp sau những mỏm núi nhấp nhô, chuẩn bị nhường chỗ cho màn đêm sắp xuống bao phủ quanh vùng. Buổi chiều mới tới đang khi đứng ngoài trò chuyện với anh em bộ binh có nghe họ nhắc đến tên của địa danh Khe Sanh, nơi nầy hiện chúng đang dùng giam giữ quân nhân của các đơn vị QLVNCH khá đông. Thỉnh thoảng anh em bộ binh trên tiền đồn gặp nhiều nhóm quân của ta đã tìm cách đào thoát trốn về được anh em vui mừng đón tiếp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðúng bẩy giờ tối toán chuẩn bị khởi hành bỗng phía dưới chân đồi cách xa lô cốt hơn một nghìn mét, theo tầm mắt còn trông khá rõ vì thời tiết bắt đầu chuyển sang Mùa Hè, cho dù mặt trời đã lặn nhưng vẫn nhìn thấy nhất là ánh đèn của đoàn xe tăng và xe vận tải của chúng di chuyển không biết cả thảy bao nhiêu đoàn. Tất cả bật đèn sáng trưng từng chiếc từng chiếc nối đuôi chạy tà tà trên quốc lộ 9 tiến thẳng về hướng tiền đồn có toán Biệt Hải chúng tôi tạm trú. Ðiều lạ lùng là hầu như cả đoàn xe Cộng Sản không hề nao núng, lo sợ máy bay của QLVNCH và của Hoa Kỳ từ hạm đội ngoài biển bay vào oanh tạc hoặc pháo binh các nơi bắn tới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi đoàn xe chúng sắp chạy gần đến cây cầu dưới sát chân tiền đồn, đã bị đơn vị công binh phe ta giật sập, lập tức cả đoàn tăng T54 và xe Molotova nhanh chóng chuyển hướng băng ngang nhiều ngọn đồi rồi chạy thọc sâu vào lãnh địa thuộc vòng đai Quảng Trị. Thấy vậy một số anh em lẩm bẩm chửi thề “Mẹ kiếp” vì toán đang chuẩn bị khởi hành đã bị Bắc quân mò đến áp đảo tinh thần.&lt;br /&gt;Qua ngày hôm sau cũng thế lúc hai giờ chiều chúng tôi lại phát hiện từng đoàn Molotova của chúng xuất phát từ hướng Cửa Việt tiếp tục bươn bả chạy vào, băng qua nhiều đồng ruộng bỏ hoang bên kia bờ Bắc sông Hiếu Giang một cách thản nhiên khiến nhiều cát bụi bay lên mịt mờ. Tóm lại trong thời gian toán Biệt Hải có mặt trên lô cốt, hàng ngày đều mục kích trông thấy xe cộ phía bộ đội Bắc Việt xuất hiện liền liền khiến mọi người thắc mắc nghĩ ngợi đặt nhiều câu hỏi. Những giờ phút hiểm nguy thế nầy sao lại không thấy máy bay hay pháo binh bắn tiêu diệt hay làm hư hỏng đoàn xe của chúng? Ðồng thời chúng tôi cảm thông chia sẻ sự âu lo của anh em đại đội bộ binh tại đó phải chiến đấu trong đơn độc. Riêng toán Biệt Hải kể cả những người cố vấn bất quá chỉ chịu đựng mấy ngày của chuyến công tác là cùng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với tình thế vô vọng thế nầy làm cho tình hình quân sự quanh vùng mỗi ngày thêm tồi tệ và anh em chỉ biết nhìn nhau chia sẻ ưu tư bằng cách lấy “Basto xanh” hoặc thuốc lá Quân Tiếp Vụ mời cùng hút giải khuây. Cho đến hôm nay dù cuộc chiến đã trôi qua trên ba mươi năm kể từ Tháng Tư năm 1972 nhưng mỗi khi có dịp nghĩ tới chuyến công tác Biệt Hải “Bat- 21” ngày đó, tôi hết lòng cảm phục và biết ơn sự hi sinh cao độ của các chiến hữu trấn đóng tại lô cốt tiền đồn trên vùng tuyến đầu dọc quốc lộ 9 Cam Lộ, (Hiếu Giang) tỉnh Quảng Trị năm nào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phải công nhận sự dũng cảm chịu đựng của các chiến hữu Ðại Ðội Sư Ðoàn 3 Bộ Binh dù rằng cấp số trên dưới chỉ 80 anh em so với mấy sư đoàn Bắc quân ngày đêm kéo đến bao vây thị oai hay quấy rối. Nhưng các chiến sĩ QLVNCH vẫn một lòng sắt son cùng nhau quyết tâm ở lại bảo vệ vùng giới tuyến địa đầu miền Nam trong thời kỳ khó khăn và nguy ngập chưa bao giờ thấy.&lt;br /&gt;Những ngày tị nạn ở nước ngoài may mắn đọc được tài liệu công tác “BAT-21” đã giúp tôi hiểu rõ nhiều chi tiết và còn biết thêm tên tuổi những người phi công được toán Biệt Hải giải thoát là đại úy phi công Mark Lack và trung tá phi công Hambleton.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dưới đây chúng tôi chỉ đề cập những phi công mà toán Biệt Hải trách nhiệm giải cứu thuộc “Bat, 21”&lt;br /&gt;(Tóm tắt một số trong tài liệu sưu tầm của Trần Ðỗ Cẩm)&lt;br /&gt;II, BAT-21 bị bắn hạ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trưa ngày 2 Tháng Tư, 1972, một phi vụ gồm 3 Pháo Ðài Bay B-52 trên đường tới oanh tạc vị trí địch cách Tây Bắc căn cứ Carroll khoảng 2 cây số. Các Pháo Ðài Bay B-52 đều được trang bị nhiều máy điện tử có thể làm nhiễu loạn làn sóng rada hướng dẫn hỏa tiễn phòng không SAM. Nhưng vì có quá nhiều giàn SAM trong vùng nên trong phi vụ nói trên còn có 2 phi cơ EB-66 điện tử chuyên phá rối rada phòng không hộ tống, danh hiệu truyền tin BAT21 và BAT22. Lúc sửa soạn thả bom, các phi cơ B-52 và EB-66 đều phát hiện đang bị nhiều vị trí rada phòng không địch theo dõi. Ðịch phóng lên 3 hỏa tiễn. BAT-21 bị một hỏa tiễn bắn trúng bụng phi cơ gây tiếng nổ và một quả cầu lửa lớn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên phi cơ BAT-21, Trung Tá Hambleton, danh hiệu truyền tin BAT-21 Brovo, lúc đó đang ngồi trên ghế phi hành viên, phía sau phi công, lập tức bấm nút, ghế của ông bung lên và rời khỏi chiếc máy bay bị nạn. Dù của BAT-21 Bravo từ từ rơi xuống đất, tại vị trí cách cầu Cam Lộ khoảng 2 cây số về hướng Ðông, Ðông Bắc.&lt;br /&gt;VI, phi cơ điều không bị bắn hạ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi nhận tiếp tế tại Ðà Nẵng, phi cơ điều không Nail-38 lại bay ra Quảng Trị để tiếp tục bao vùng cho Bat-21. Tới vùng Cam lộ, chẳng may khi xuống thấp khoảng 2,000 bộ để dễ quan sát, phi cơ bị trúng hỏa tiễn phòng không địch. Quan sát viên Mark Clark ngồi ở ghế sau lập tức bấm nút đào thoát trước, phi công Henderson theo sau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phi công Henderson rơi xuống vùng Bắc sông Miếu Giang, cạnh con lộ chạy theo hướng Ðông-Tây và trốn vào một lùm cây. Quan sát viên Marck Clark rơi xuống bờ Nam, chỉ cách bờ nước chừng dăm thước. Cả hai dùng máy truyền tin cấp cứu báo cáo xuống đất an toàn và chỉ cách vị trí của BAT-21 Bravo khoảng 2 cây số. Toán phi cơ trong vùng tìm đủ cách để tiếp cứu nhưng không thành công. Ðến đêm, Henderson bị địch quân phát hiện và bị bắt. Như vậy, ngoài Hambleton, nay còn có thêm nạn nhân Mark Clark cần cấp cứu&lt;br /&gt;Theo tài liệu viết khi xác định được địa điểm Trung Tá Hambleton ẩn trốn ngày 2 Tháng Tư năm 72 lúc 9 giờ tối không quân Hoa Kỳ đã lập một Vùng Cấm Hỏa Lực (No Fire Zone) quanh nơi phi công Hambleton bị hỏa tiễn SAM bắn rơi với đường kính 27 cây số. Vùng cấm hỏa lực này bao trùm hầu hết các vị trí QLVNCH, đặc biệt là Sư Ðoàn III đang bị địch tấn công. Vì thế các đơn vị QLVNCH không còn được máy bay và pháo binh yểm trợ như thường lệ.&lt;br /&gt;Ðây là cơ hội bằng vàng đã giúp Bắc Việt chuyển quân vào các tỉnh của tuyến đấu lãnh thổ miền Nam một cách nhanh chóng, an toàn và công khai không chút e sợ. Như đã viết ở trên, các điểm đóng quân của Sư Ðoàn 3 Bộ Binh sau đó không lâu đã bị Cộng quân tràn ngập. Thật khó tưởng tượng chỉ vì sự việc như đã đề cập trong mà phải hi sinh biết bao sinh mệnh của quân dân vùng giới tuyến Quảng Trị lúc đó và cả cả thời gian sau nầy.&lt;br /&gt;Trở lại chuyến công tác. Gần tám giờ tối màn đêm bắt đầu phủ xuống lạnh lùng che kín tất cả cảnh vật chung quanh nhường chỗ cho các sinh vật sở trường sinh hoạt về đêm trong đó có toán Biệt Hải chúng tôi. Tối nay toán áp dụng chiến thuật di hành theo đội hình hàng dọc. Mỗi người theo thứ tự đi cách nhau ba thước mét, trừ tiền sát viên đã được chỉ định lúc ở phòng thuyết trình.&lt;br /&gt;Tiền sát dẫn toán đi đầu gồm tôi, Tất (cách từ tám đến mười mét) rồi tới trưởng toán Thọ và Tom Norris. Còn Châu và K. đi hậu vệ. Riêng Trung Tá Andy Anderson ở tại tiền đồn phụ trách chỉ huy tổng đài, có nhiệm vụ điều hợp, liên lạc giữa ba trục gồm: Toán Biệt Hải trong vùng công tác, thám thính L19 quan sát trên không và các phi công Hoa Kỳ đang ẩn trốn rải rác khắp trong vùng địch.&lt;br /&gt;Toán chúng tôi rời khỏi tiền đồn được một hạ sĩ quan trực hướng dẫn đi băng qua nhiều vòng kẽm gai mìn bẫy phòng thủ của căn cứ. Nhờ buổi chiều mới tới, lợi dụng lúc đứng chuyện trò ngoài lô cốt với anh em đại đội, tôi có dịp nhìn quanh địa thế. Nên giờ nầy tìm lộ trình dẫn toán đi xuống bờ sông Hiếu Giang cảm thấy không mấy khó khăn. Sông Hiếu Giang khoảng cách hai bờ ước chừng 300 hoặc 400 mét. Ban ngày đứng trên tiền đồn phía bờ Nam nhìn sang có thể trông rõ từng gốc cây mọc bên bờ Bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sông Cam Lộ được chia nhiều nhánh. Ðặc biệt giữa dòng sông có dòng nước chảy rất mạnh tùy theo nhịp độ thủy triều lên xuống. Ðứng dưới mép bờ sông không thể nào nhìn ngược lên hướng trên quốc lộ 9 để ước đoán khoảng cách trừ khi có bản đồ. Hơn nữa ban đêm càng giới hạn tầm nhìn vì nhiều cây cối cao to mọc lên san sát che khuất phía trước. Vào giữa đêm khuya thanh vắng, thỉnh thoảng vẫn nghe rõ tiếng ho hoặc tiếng khua động phát xuất từ những điểm đóng quân các sư đoàn bộ đội Cộng Sản dội lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðêm nay bầu trời về khuya cảnh vật chung quanh càng trở nên tịch mịch hoang vắng lạ thường. Tiếng côn trùng tỉ tê vọng lại trong đêm, tựa bao oan hồn “sinh Bắc tử Nam” hay những sinh linh vô tội vì chiến tranh thác oan, kể cả người Biệt Hải không may bị bắt đến phút lìa đời, cũng không được nấm mồ trọn vẹn. Do đó anh em trong lòng lén lên dâng lên nỗi buồn thấm thía khi chợt nghĩ đến lưỡi hái tử thần lảng vảng đâu đây?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Miên man suy nghĩ vài anh sơ ý đụng phải gốc cây, vô tình phá sự bình an của vài con chim đang yên giấc trên các nhành cây khiến nguyên đàn kêu oang oác vụt bay tán loạn làm tất cả chúng tôi giật mình, tưởng chừng như bị địch phát giác theo dõi hướng đi của toán. Di hành ban đêm rất kị: ánh sáng, nền trời, mùi hương, tiếng động dễ dàng bị đối phương phát giác. Về đêm bất cứ tiếng động lớn nhỏ đều tạo cảm giác căng thẳng gây nhiều e ngại cho người đi. Tất cả bây giờ chỉ tin tưởng vào giác quan của chính mình giúp lượng định tình hình, kịp phán đoán cấp thời những sự việc xảy ra xung quanh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vả lại bộ đội Bắc quân đang đóng cách toán Biệt Hải di chuyển không xa đã làm tiền sát viên phập phồng lo sợ những đều không may bất ngờ xảy đến. Kịp lúc trong trí nảy sinh ý nghĩ giúp tôi nhanh chóng thay đổi lộ trình bằng cách dẫn toán đi xuống dưới mép nước. Lối di chuyển nầy tuy chậm, thỉnh thoảng gặp vũng nước sâu hoặc những nhánh cây mọc đâm thẳng xuống dưới sông cản đường, nhưng tin tưởng không gây tiếng động hoặc để lại dấu vết giúp chúng nắm bắt theo dõi và tương đối an toàn hơn.&lt;br /&gt;Chúng tôi đến được mục tiêu vào khoảng nửa đêm và không biết hiện toán đã vào sâu được bao nhiêu cây số vì tiền sát viên không giữ bản đồ. Anh em nhận lệnh trưởng toán chia thành nhóm nhỏ ẩn nằm dưới các bụi cây tập trung giác quan nghe ngóng các hướng. Trên quốc lộ 9 có các đơn vị địch đóng quân và phía dưới là dòng sông.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước giờ khởi hành mọi người nghe trưởng toán cho biết đêm nay khoảng từ mười hai giờ khuya đến ba giờ sáng, một trong hai phi công sẽ rời khỏi chỗ ẩn trốn và tìm cách đi xuống, lội theo dòng sông ra. Trưởng toán lưu ý mọi người chú tâm quan sát một khi phát giác tức thời báo ngay tất cả cùng biết và hành động thật nhanh đón phi công.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðêm nay cả vùng Cam Lộ tối đen như đêm 30 Tết. Không gian hết sức tĩnh lặng. Những đọt cây lớn nhỏ đều đứng yên bất động. Bầu trời không một gợn mây. Vài ngôi sao lưa thưa xuất hiện chiếu ánh sáng li ti như đom đóm lạc loài trong đêm, chứng tỏ thời tiết miền Trung sắp sửa bước sang Mùa Hè oi bức càng làm cảnh vật trong vùng cô tịch một cách đáng ngại chỉ trừ hơi thở đều đặn người phụ tiền sát đang nằm kế cận, hòa lẫn tiếng nước róc rách do dòng thủy triều ồ ạt chảy ra hướng Cửa Việt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bất chợt phía trên chính giữa dòng sông tôi phát giác một vật đen lờ mờ xuất hiện, bập bềnh theo dòng nước trôi xuống rất nhanh mỗi lúc càng gần. Ít phút sau đã nhìn được hình thể chiều dài của vật đen khá rõ rệt vụt ngang qua chỗ hai đứa. Sở dĩ trông thấy trước vì hai tiền sát đi đầu hiện nằm vị trí phía trong cùng. và nghe tiếng thở phì phào rất rõ như tiếng trâu bò lội dưới nước ban đêm phát xuất từ vật đen. Quá khả nghi, tôi khều Tất ra hiệu hãy bò thật nhanh thông báo cho trưởng toán Thọ biết để ông kịp thời quyết định. Ít phút sau ở đầu kia đã nghe tiếng sột soạt của Tom Norris đang xỏ chân nhái phóng xuống dòng sông lội theo. Khoảng hai mươi phút sau chúng tôi thấy ông lội trở lại vị trí của toán. Có lẽ dòng nước đang đà chảy mạnh xô đẩy vật đen trôi xa làm Tom Norris không tài nào theo kịp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả sự việc xảy quá đột ngột khoảng khắc ngắn ngủi nên anh em trong toán chẳng ai kịp hành động. Hơn nữa đây lần đầu tiên toán Biệt Hải được tham dự công tác vớt người kiểu nầy. Dù vậy cả toán vẫn nằm án binh bất động đợi lệnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy không nói ra nhưng thâm tâm mọi người nhất là phần tôi vẫn đinh ninh lúc nãy vật đen, có thể là một trong số phi công đã theo dòng nước trôi ra nhưng không may vuột khỏi tầm tay của toán đang bỏ công chờ đợi. Xem như cơ hội hiếm hoi bị mất. Cùng lúc nghe tiếng đối thoại giữa Tom Norris và Trung Tá Anderson trực máy tại tiền đồn lô cốt. Có lẽ hai người hiện đang đề cập những diễn biến bất thường vừa xảy ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ khi phát hiện vật đen đã ba mươi phút trôi qua, chúng tôi có lệnh rút lui. Liếc nhìn đồng hồ dạ quang điểm chỉ hơn hai giờ sáng. Trên đường rút ra toán vẫn giữ nguyên đội hình di chuyển theo lộ trình lúc khi đi vào. Ðặc biệt lần nầy mọi người hết sức cẩn thận đề phòng nhất là những chỗ nghi ngờ có địch. Ðiều làm mọi người nơm nớp lo sợ là bầu trời quanh vùng tối đen cộng với cây cối dầy đặc, lỡ mà lọt điểm phục kích của địch chắc chắn không một ai có thể sống sót.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo nguồn tin đồng bào tị nạn cho biết hiện bộ đội Bắc Việt tung rất nhiều toán, lục kiếm gắt gao tìm bắt các phi công Hoa Kỳ đang ẩn trốn. Phần tôi từ khi phát giác vật đen và nghe tiếng thở phì phào như người, trong đầu ám ảnh và tự hỏi không biết vật đó vật gì phải người hay không? Nên bụi cây nào sắp sửa ngang qua, tôi đều chú tâm quan sát rất kĩ tuy biết niềm hi vọng hết sức mong manh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kể từ khi nhận lệnh rút lui khỏi điểm kích đến giờ toán đã di chuyển được hơn một tiếng đồng hồ. Thoạt nhiên đằng trước mặt tôi phát giác một bụi cây đứng một mình riêng rẽ sát dưới mé nước chỉ cách chỗ tôi từ tám đến mười thước. Cả thân cây rung lên nhè nhẹ từng hồi tựa như đang bị gió thổi, khiến mặt nước quanh đó giao động, ngược với những bụi cây kế cận vẫn đứng yên không hề nhúc nhích đã khiến tôi giật mình hoảng sợ. Ðiều lạ lùng hơn nữa hiện thời tiết oi bức, chung quanh không một luồng gió. Với phản xạ tôi ra dấu cho Tất và cả hai vội vàng nằm xuống nấp sau mô đất. Cùng lúc Tất chuyển tín hiệu về sau để mọi người kế tiếp kịp thời dừng lại đề phòng bất trắc.&lt;br /&gt;Trở lại bụi cây bất ngờ đã được phát giác lúc nãy hai đứa tôi nằm im lìm chờ đợi cố để mắt theo dõi động tĩnh. Mười phút trôi qua mang theo âu lo hồi hộp nhưng những bụi cây kế cận vẫn đứng yên bất động. Duy điểm bụi cây phát giác vẫn từng hồi lay động. Thấy vậy tôi kề tai nói khẽ với Tất: - Hãy chú ý theo dõi và yểm trợ nếu cần. Tao bò đến mục tiêu tìm cách xác định vị trí khả nghi, không thể để toán nằm chờ đây mãi vì bầu trời sắp sáng đến nơi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cùng lúc tôi xoay nòng súng AK.47 nhắm thẳng hướng mục tiêu, ngón trỏ sẵn sàng lảy cò nếu tình hình ở điểm khả nghi đột biến. Khi khoảng cách hai bên thâu ngắn bỗng thấy cả bụi cây trở nên rung mạnh. Ðồng thời nghe giọng nói yếu ớt từ dưới góc cây vọng ra hai tiếng “No, No” đã giúp tôi mau chóng nhận định không còn nghi ngờ gì nữa, chính đó là viên phi công Hoa Kỳ mà toán chúng tôi đã suốt đêm bất chấp hiểm nguy tìm kiếm. Ông ta đứng ôm chặt gốc cây cách tôi ước khoảng năm mét. Trên đỉnh đầu ông trông lờ mờ hình như đang phủ một miếng vải ngụy trang. Ngược lại người phi công Hoa Kỳ chắc chắn thấy hai đứa tôi và tưởng toán bộ đội cộng sản săn lùng tìm kiếm được ông, cộng thêm đói khát trong thời gian lẩn trốn khiến tinh thần ông sa sút hoảng sợ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn hai tiền sát chúng tôi khi đã xác định chắc chắn mục tiêu, tôi nằm lại tại chỗ quan sát theo dõi vì sợ người phi công hốt hoảng buông gốc cây, lội theo dòng nước biến mất như trước đây hay do bản năng tự vệ dùng súng lục bắn chúng tôi thì hỏng mọi chuyện. Biết thế tôi ra hiệu bảo Tất tìm cách bò nhanh phía sau trình trưởng toán biết gấp sự việc. Mấy phút sau trưởng toán Thọ và Tom Norris, cả hai tiến lên. Tôi chỉ ngay bụi cây nơi viên phi công đang đứng. Khi xác định vị trí Tom Norris bò tới cách người phi công mấy thước nói vọng vào (có thể mật khẩu nhận nhau). Bất ngờ từ trong bụi cây thấy người phi công trườn ra cùng lúc rồi cả hai quỳ xuống ôm lấy nhau, tưởng như đôi bạn xa cách lâu ngày bỗng dưng gặp lại vui mừng khôn xiết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong phút giây nghẹn ngào vui sướng chúng tôi nghe tiếng của người phi công thì thào trong miệng “Thank !Thank !”. Mọi người gần đó hết sức phấn khởi. Suốt mười ngày đêm ông ta đã bị bộ đội cộng sản truy bức đói khát tưởng chừng sớm muộn bị bắt. Không ngờ đêm nay được toán Biệt Hải cứu sống, lại có sự tham dự của Tom Norris là chiến hữu ông. Không niềm vui nào người phi công có thể đem ra so sánh đối với hai chữ Tự Do. Riêng toán Biệt Hải chúng tôi thì đây là phần thưởng tinh thần vô giá và xem như toán đã hoàn thành chuyến công tác đêm đầu càng gây hi vọng chuyến công tác kế tiếp. Trưởng toán vội bảo anh em cấp tốc rời khỏi chỗ này càng sớm càng tốt vì quanh đây còn trong phạm vi đóng quân các sư đoàn Bắc Việt. Tất cả không chần chờ lẹ làng thận trọng di chuyển và hết sức cẩn thận bảo vệ người phi công tới chỗ an toàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 11 Tháng Tư năm 1972 lúc 7 giờ sáng, toán Biệt Hải dìu được người phi công Hoa Kỳ về dưới triền đồi Lô Cốt. Vùng đất nầy tương đối an toàn thuộc quyền kiểm soát đơn vị trấn đóng. Chúng tôi nhìn thấy sức khỏe của người phi công hiện quá bết bát không thể ông tự di chuyển một mình trèo lên dốc đồi nên anh em kẻ trước người sau thay phiên cõng ông trên lưng, nhắm hướng về phía tiền đồn vừa đi vừa chạy vì sợ Cộng Sản trông thấy thì chúng gọi pháo kích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi cả toán đặt chân trên phần đất Lô Cốt ai nấy đều thấm mệt vì suốt đêm qua thức trắng và căng thẳng. Ðơn vị trong đồn mở cổng chạy ra phụ dìu người phi công vào phía trong đồn. Vài nhân viên Biệt Hải nhanh trí lấy những gói cà phê trong các hộp “Ration C” đem khuấy nước nóng đưa mời người phi công Hoa Kỳ uống. Tiếp nhận ly cà phê trên tay mọi người bỗng thấy trên hai khóe mắt của ông đỏ hoe rồi hai dòng lệ lăn dài. Có nằm trong hoàn cảnh nầy mới hiểu thấu được tình chiến hữu đồng đội bất phân chủng tộc hết sức thắm thiết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mười giờ sáng cùng ngày một chiếc thiết vận M-113 không biết từ đâu xuất hiện chạy đến đậu sẵn phía sau Lô Cốt, làm phương tiện để chở người phi công Hoa Kỳ trở về hậu cứ. Khi chiếc M-113 và người phi công thật sự rời khỏi Lô Cốt mọi người mở ba lô lấy khẩu phần lương khô “Ration C” ăn uống qua loa. Ai nấy vội tìm chỗ nằm để giấc ngủ lấy sức tiếp tục chuyến công tác tối nay.&lt;br /&gt;Phần tôi sau khi xong xuôi tìm một chỗ phía trong Lô Cốt nằm xuống định ngủ một giấc cho lại sức. Nhưng thời gian kéo dài mấy tiếng đồng hồ nhưng không tài nào chợp mắt được. Tất cả hình ảnh đêm qua vẫn chập chờn hiện về trong tâm trí khiến thân thể trở nên bải hoải mỏi mệt lạ thường. Khoảng 2 giờ 30 chiều bỗng có nhiều tiếng nổ chát chúa khắp quanh vòng đai Lô Cốt. Một vài trái rớt xuống trúng trên miệng hầm nổi hướng nam . Bắc quân đóng bên kia các ngọn đồi pháo tới làm Lô Cốt rung chuyển liên hồi như thể động đất sau mỗi đợt nổ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc ấy mọi người đang nằm phía trong vội vàng ngồi dậy xách súng đạn nhắm ngay cửa chính của tiền đồn phóng chạy ra ngoài, định nhảy xuống bất cứ căn hầm phòng thủ nào gần nhất để trợ lực cùng anh em bộ binh chiến đấu. Toán Biệt Hải chỉ tạm trú vài ngày nên không có lệnh đào hầm. Mọi người lo ngại Cộng Sản kéo tới ban ngày mở đợt tấn công nhưng chưa kịp thi hành thì thấy mấy người lính bộ binh dìu Trung Tá Andy Anderson và trưởng toán Thọ từ ngoài lật đật đưa vào phía trong Lô Cốt. Thấy vậy chúng tôi đứng lại tìm băng cá nhân buộc vào vết thương để cầm máu cho hai người. Tom Norris mở máy vô tuyến liên lạc về Bộ Chỉ Huy xin phương tiện di tản thương binh .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo một số anh em trong đồn cho biết khoảng hai giờ chiều họ trông thấy hai người đứng trên miệng hầm phòng thủ trên tay cầm ống nhòm quan sát địa thế. Có thể bọn quan sát của chúng đã trông thấy nên gọi pháo kích bắn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bốn giờ chiều hôm đó một chiếc thiết giáp M-113 khác tiếp tục chạy tới di chuyển thương binh trong số có trưởng toán Biệt Hải. Thể theo đề nghị của Ðại Úy Thọ muốn Châu cùng đi trên chiếc M-113 để giúp săn sóc. Như vậy tối nay toán mất thêm hai nhân viên công tác và Trung Tá Anderson trực máy liên lạc, tất cả ba người. Hiện còn lại bốn người gồm: ba nhân viên Biệt Hải và Tom Norris (UDT Seal). Không ngờ diễn biến xảy ra đột ngột chiều nay làm hoàn toàn thay đổi chương trình công tác như đã dự tính. Riêng tôi cảm thấy phân vân, lo lắng vì hình ảnh các đoàn xe Molotova và T54 - T72 của đối phương ngày đêm di chuyển trong vùng. Chưa kể những trận pháo kích đã phần nào ảnh hưởng về mặt tâm lý.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tối nay toán còn lại bốn người. Chúng tôi tiếp tục nhận lệnh đi giải cứu Trung Tá Hambleton. Nghe nói ông nầy bị thương khá nặng đang trốn sâu trong vùng địch kiểm soát suốt mười một ngày qua. Sức khỏe ông rất bết bát nên không thể di chuyển. Tối nay toán phải tìm cách đi vào gần nơi của ông đang ẩn trốn và đêm nay Ðại Úy Tom Norris sẽ thay thế Ðại Úy Thọ làm trưởng toán. Nghe tin tôi và Tất làm tiền sát tối nay, cả hai phân vân vấn đề trở ngại ngôn ngữ chẳng may chạm địch trên đường di chuyển không biết liên lạc ra sao?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 11 Tháng Tư năm 1972, Tom Norris cho toán khởi hành có phần sớm hơn lần trước. Lúc gần 7 giờ tối bầu trời bên ngoài vừa nhá nhem mọi người được lệnh sẵn sàng rời khỏi tiền đồn. Ðội hình di chuyển đêm nay vẫn không thay đổi, số nhân viên chỉ có bốn người :Tiền sát đi đầu là tôi, Tất, đến Tom Norris và K. hậu vệ. Lộ trình di hành từ điểm lô cốt xuống bờ sông đêm nay có phần thay đổi. Vì tránh mìn bẫy nên tôi tìm cách đi lệch cách hướng đường mòn cũ tối qua từ 30 đến 40 mét. Tôi nghĩ biết đâu chúng đã để ý theo dõi sự di chuyển lên xuống tiền đồn của toán và tìm cách lén gài mìn bẫy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðêm nầy cũng như chuyến trước, sau mấy giờ lần theo đường bờ sông di chuyển chúng tôi tới được điểm hẹn vào lúc 11 giờ đêm. Trước khi khởi hành chúng tôi nghe K. chuyển lời Tom Norris cho biết, tối nay phi công Hambleton sẽ theo dòng nước trôi ra tương tự như viên phi công Mark Clack đêm qua. Rút kinh nghiệm của chuyến vừa rồi lần nầy ai nấy đều hết sức cẩn trọng, chú ý nhiều hơn. Từ khi đặt chân tới điểm hẹn nằm lại chờ đợi cho đến giờ này, thời gian gần hai giờ trôi qua nhưng vẫn không thấy Hambleton trôi tới theo dòng nước như đã cho biết, mặc dầu hiện giờ dòng thủy triều đang chảy khá mạnh. Bỗng K. chuyển lời Tom Norris cho biết rằng Hambleton không thể rời xa vị trí ẩn núp vì vết thương ông ta quá nặng đồng thời ra hiệu mọi người rút lui. Cả toán vội theo hướng cũ trở ngược ra. Chúng tôi về đến ngoài vòng đai tiền đồn Lô Cốt gần bốn giờ sáng.&lt;br /&gt;Từ lúc đó tôi và Tất không còn thấy Tom Norris và K. đi ngang cho biết họ sẽ ngược lại bờ sông Hiếu Giang tìm ghe để làm phương tiện, tôi và Tất vẫn ở tiền đồn đợi lệnh.&lt;br /&gt;Ngày 14 Tháng Tư năm 1972 lúc 7 giờ 30 sáng, mọi người hiện diện trên Lô Cốt nghe tiếng gầm thét của rất nhiều máy bay phản lực từ hướng biển bay vào giội bom xối xả và thả khói mù xuống dọc hai bên bờ Hiếu Giang. Khoảng 10 giờ sáng thấy K. từ ngoài hối hả vào gọi chúng tôi xuống bờ sông phụ giúp cõng Trung Tá Hambleton lên. Lúc gặp thấy thân hình tương đối khá cao và gầy, một chân ông bị thương, phần da thịt chung quanh đã nhầy nhụa trở thành màu tím. Lý do thời gian khá lâu thiếu thuốc men chữa trị.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như đã viết ở trên, từ mé bờ sông ngược lên hướng Lô Cốt đường khá dốc nên ba chúng tôi thay phiên cõng ông trên vai, cố tìm cách nâng hẳn hai chân khỏi mặt đất, tương tự như Mack Clack hôm trước. Khi đặt ông nằm xuống bên trong Lô Cốt, quần áo chúng tôi ướt đẫm, một phần do ánh nắng gay gắt buổi sáng đầu ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khoảng ba hoặc bốn giờ chiều hôm ấy toán Biệt Hải tất cả bốn người được lệnh rời khỏi tiền đồn bằng chiếc M-113 trở về lại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương ở Quảng Trị. Trước khi vào Bộ Tư Lệnh, chúng tôi ngồi chờ phương tiện trở về Ðà Nẵng được một số phóng viên báo chí phỏng vấn, chụp hình... Sau đó gặp một số chiến hữu khác, họ rất ngạc nhiên khi biết toán Biệt Hải thành công. Lý do trước đây mấy ngày chính họ không mấy tin tưởng anh em chúng tôi hoàn thành công tác khó khăn nguy hiểm này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ lúc nhận lệnh thi hành công tác giải cứu các phi công Hoa Kỳ lâm nạn trên sông Hiếu Giang, Cam Lộ theo quốc lộ 9 của tỉnh Quảng Trị giữa Tháng Tư năm 1972, sau Mùa Hè Ðỏ Lửa đến nay thấm thoát thời gian trôi qua đã trên ba mươi năm. Cá nhân tôi cũng như anh em trong toán Biệt Hải tham dự đều không bao giờ nghĩ tới hoặc chú tâm tìm hiểu tên tuổi những phi công Hoa Kỳ mà anh em góp phần tham dự giải cứu. Tự nghĩ đây là nhiệm vụ người lính QLVNCH có bổn phận giúp đỡ người bạn đồng minh Hoa Kỳ đang góp phần để bảo vệ quê hương miền Nam tự do khỏi rơi vào ách thống trị Cộng Sản chẳng may gặp nạn. Hơn nữa nơi đây là tiền đồn “Thế Giới Tự Do” như một số nhân vật tên tuổi Việt và Mỹ từng một thời đề cập.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mục đích viết bài này muốn nói lên những điều trông thấy, hầu làm sáng tỏ phần nào chuyến công tác bí mật “BAT-21”. Ngoài ra không mang hoài vọng nào khác ngoài hai chữ “âm thầm, phục vụ” được mọi chiến hữu Sở Phòng Vệ Duyên Hải hằng tâm niệm ôm ấp như những ngày còn trong cuộc chiến trước năm 1975.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Lời cuối chúng tôi xin thay anh em tác giả chân thành cám ơn hai hạm trưởng Nguyễn Mạnh Trí, Trần Ðỗ Cẩm, nhà văn Lê Nhật Thăng, thế hệ II Bùi Thượng Khuê và quí thân hữu sửa chữa, cung cấp hình ảnh giúp cuốn Ðặc San Biệt Hải được hoàn thành trong dịp lễ giỗ kỳ V các anh linh, tử sĩ Biệt Hải, SPVDH/NKT”.&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2533462898413902860-5585332162601236718?l=biethai.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://biethai.blogspot.com/feeds/5585332162601236718/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/chuyen-giai-cuu-phi-cong-hoa-ky-lan-thu.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/5585332162601236718'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/5585332162601236718'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/chuyen-giai-cuu-phi-cong-hoa-ky-lan-thu.html' title='Chuyến giải cứu phi công Hoa Kỳ lần thứ III'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SnIJY8dj7EI/AAAAAAAAFWk/6csR6QJKfoo/s72-c/ptfdnang.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2533462898413902860.post-3705283730853581237</id><published>2009-07-14T18:45:00.000-07:00</published><updated>2009-07-14T18:46:40.621-07:00</updated><title type='text'>Hai Chien</title><content type='html'>&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sl009pUUhjI/AAAAAAAAFAs/NhEtXOO668I/s1600-h/BietHai_in_action.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 315px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sl009pUUhjI/AAAAAAAAFAs/NhEtXOO668I/s400/BietHai_in_action.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5358497365308507698" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trở lại trang đầu  &lt;br /&gt;Đặc Trưng không chịu trách nhiệm về bất cứ bài đăng nào.&lt;br /&gt;Ban Điều Hợp Phố Rùm có toàn quyền sửa, xóa, dời chỗ bài đăng, hay khóa tên thành viên mà không cần giải thích.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Phòng ẢNH&lt;br /&gt;RE: Tiểu Não Bách Việt&lt;br /&gt;   Tham gia dưới tên: Guest&lt;br /&gt;Đang cùng đọc đề mục này: không&lt;br /&gt;  Theo từng bài In Ra&lt;br /&gt;Các Diễn Đàn &gt;&gt; [Đời Sống - Xã Hội] &gt;&gt; Chuyện Linh Tinh &gt;&gt; RE: Tiểu Não Bách Việt  Trang: &lt;&lt;   &lt; phần trước  3 4 [5] 6 7   phần sau &gt;   &gt;&gt;&lt;br /&gt;Tên login:  &lt;br /&gt;Thân bài  &lt;&lt; Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới &gt;&gt;&lt;br /&gt;RE: Tiểu Não Bách Việt - 8/28/2007 12:43:43 PM     &lt;br /&gt;Không có Bài Mới&lt;br /&gt;hundredyue&lt;br /&gt;Nhà Lá&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài: 44&lt;br /&gt; Chuyện Trên Trời, Chuyện Dưới Biển Đông&lt;br /&gt;-Trận Hải Chiến Hoàng-Sa ngày 19/01/1974, lúc 10 giờ 25 phút sáng.-&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấy các chiến hạm ta bất thần bao vây và dàn đội hình tác chiến để uy hiếp đảo, lực lượng địch cũng chia thành hai nhóm để nghênh cản. Hai chiến hạm mới tới mang số 389 và 396 vận chuyển về hướng Tây Bắc đảo để chận đường phân đội Bắc, trong lúc 2 Kronshtadt còn lại mang số 271 và 274 đối đầu với phân đội Nam tại phía Nam đảo Quang Hòa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;01_TauTCDoiDauHQVN      &lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đổ Quân Tái Chiếm Đảo Quang-Hòa.&lt;br /&gt;Mặc dù phía Trung Cộng phản ứng mạnh, lực lượng Việt-Nam Cộng-Hoà vẫn tiến hành kế hoạch hành quân đổ bộ tái chiếm đảo Quang Hòa như đã dự trù.&lt;br /&gt;Hồi 6 giờ 48 sáng, toán đổ bộ cũng được chia làm hai cánh:&lt;br /&gt;-Cánh Biệt Hải trên HQ-4 được đổ bộ lên mặt Nam đảo Quang-Hòa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;02_HQ-4DoQuanLenPhiaNamDaoQuang-Hoa&lt;br /&gt;6 giờ 48 phút sáng ngày 19/01/1974.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-Hải Kích trên HQ-5 được đổ bộ lên mặt Tây Nam đảo Quang Hòa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;03_HQ-5DoHaiKichLenTayNamDaoQuang-Hoa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tới 7 giờ 42 sáng, vì gió thổi quá mạnh khiến hai bè cao su chở toán Hải Kích bị dạt ra ngoài khơi nên HQ-5 phải thả xuồng máy để phụ giúp kéo tới điểm đổ bộ.&lt;br /&gt;Tuy gặp khá nhiều khó khăn vì gió mạnh và sóng lớn sát bờ, cuối cùng toán Hải Kích cũng đổ bộ lên được mặt Tây Nam đảo Quang Hòa vào lúc 7 giờ 45 sáng.&lt;br /&gt;Cũng trong lúc này, Trung Cộng cũng cho đổ thêm quân từ 2 tầu võ trang lên mặt Bắc đảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;04_TCDoThemQuanLenMatBacDaoQuang-Hoa&lt;br /&gt;7 giờ 42 phút sáng ngày 19/01/1974.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tình hình bộ binh của hai phía Việt-Nam Cộng-Hòa và Trung Cộng lúc 7 giờ 45 sáng ngày 19/01/1974.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;05_TinhHinhBoBinhTrenDaoQuang-Hoa&lt;br /&gt;7 giờ 45 sáng ngày 19/01/1974.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lực Lượng đổ bộ gồm những thành phần được huấn luyện tinh thục, thiện chiến nhất của HQVN.&lt;br /&gt;Toán Biệt Hải do HQ Ðại Úy Nguyễn Văn Tiến (khóa 16 SQHQ Nha Trang) chỉ huy, gồm những quân nhân "người nhái" thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải.&lt;br /&gt;Toán Hải Kích chuyên về phục kích và đánh bộ do HQ Ðại Úy Trần Cao Sạ (khóa 16 SQHQ Nha Trang) chỉ huy.&lt;br /&gt;Ngay từ khi vừa đặt chân lên bờ đảo, cả hai toán bị quân Trung Cộng trên đảo đông hơn đàn áp.&lt;br /&gt;Ðịch quân trang bị vũ khí nặng dàn hàng ngang ngăn cản và uy hiếp, một số lớn khác ẩn núp trong các giao thông hào và công sự phòng thủ kiên cố để yểm trợ khiến lực lượng đổ bộ không thể nào tiến sâu vào trung tâm đảo.&lt;br /&gt;Sau khi hoàn tất nhiệm vụ đổ quân, hai chiến hạm HQ-5 và HQ-4 thuộc phân đội Nam (II) di chuyển trong vùng từ Nam Ðông Nam tới Tây Nam của đảo Quang Hòa, có lúc vào sát bờ chỉ cách chừng 1 hải lý để trợ chiến cho lực lượng đổ bộ.&lt;br /&gt;06_DoiHinhHQ-4_HQ-5SauKhiDoQuan&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tình hình lúc bấy giờ rất nguy cấp và thật bất lợi cho lực lượng Việt-Nam Cộng-Hòa, nhưng vì tuân hành thượng lệnh quyết tâm bảo vệ lãnh thổ nên vào khoảng 9 giờ sáng, Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật (SQ/CHCT) ra lệnh cho toán Hải Kích vượt lên trước, di chuyển về mặt Tây Nam đảo. Thấy quyết tâm chiếm lại dảo của các chiến sĩ Việt Nam, quân Trung Cộng nấp trong các công sự phòng thủ nổ súng thượng liên vào toán Hải Kích khiến 1 sĩ quan là Trung Úy Nguyễn Văn Ðơn và 1 đoàn viên tên Long bị tử thương và 2 đoàn viên khác bị thương. Toán Hải Kích lập tức dùng hỏa lực cơ hữu gồm súng phóng lựu M.79 và súng cá nhân M.16 bắn trả. Còn toán Biệt Hải tuy cũng bị lính Trung Cộng đông hơn uy hiếp nhưng hoàn toàn vô sự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;07_TinhHinhTrenDaoLuc 9 GioSang&lt;br /&gt;9 giờ sáng ngày 19/01/1974&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào khoảng 9 giờ 30 sáng, trước tình hình bất lợi và áp lực địch quá mạnh có thể đưa tới nguy cơ toàn thể lực lượng đổ bộ bị địch quân đông hơn tiêu diệt, Sĩ  Quan Chỉ  Huy Chiến Thuật (SQ/CHCT) ra lệnh rút tất cả hai toán Hải Kích và Biệt Hải về chiến hạm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;08_HaiKich-BietHai_TrietThoai&lt;br /&gt;10 giờ sáng ngày 19/01/1974.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lực lượng đổ bộ về tới chiến hạm an toàn, không bị thêm một thiệt hại nào, mang theo được xác sĩ quan, còn các đoàn viên không kịp mang theo. Hai đoàn viên bị thương được di tản qua HQ-4.&lt;br /&gt;Lúc 10 giờ sáng, HQ-5 vị trí cách đảo Quang Hòa 5000 yards (khoảng 3 hải lý) về hướng Tây Nam (245 độ).&lt;br /&gt;Trước những biến chuyển kém thuận lợi, Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật (SQ/CHCT) ban hành chỉ thị mới.&lt;br /&gt;Trong khoảng thời gian từ 10 giờ 17 sáng cho tới 10 giờ 24 sáng, các chiến hạm Việt Nam vận chuyển chiến thuật để thiết lập một hình vòng cung ở phía Tây đảo Quang Hòa.&lt;br /&gt;Phân đội Bắc (I) gồm hai chiến hạm HQ-16 và HQ-10 di chuyển về phía Tây Bắc đảo Quang-Hòa.&lt;br /&gt;Phân đội Nam (II) gồm hai chiến hạm HQ-5 và HQ-4 di chuyển từ Tây Nam tới vị trí phía Tây Ðảo Quang-Hòa.&lt;br /&gt;Khi thấy các chiến hạm Việt Nam thiết lập đội hình mới, bốn chiếc tầu Trung Cộng lập tức bám theo, một đối một.&lt;br /&gt;Theo phúc trình hậu hành quân của soái hạm HQ-5, tình hình lúc đó đã hết sức căng thẳng.&lt;br /&gt;Chiến hạm đôi bên chỉ cách nhau khoảng 1,600 yards (chừng 1 hải lý) đều ở trong tình trạng nhiệm sở tác chiến toàn diện với các nhân viên ngồi trong các ụ súng.&lt;br /&gt;Các khẩu hải pháo chĩa thẵng vào tầu địch trong tư thế sẵn sàng tác xạ tiêu diệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;09_DoiHinhHQVN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc đó, vị trí các chiến hạm đều nằm về hướng Tây và Tây Bắc của đảo Quang Hòa.&lt;br /&gt;Hải đội VNCH bao vây phía ngoài, cách đảo khoảng 4-5 hải lý, các tầu Trung Cộng nằm hơi chếch về phía bên trong, cách đảo chừng 3-4 hải lý.&lt;br /&gt;Vị thế tác chiến của các chiến hạm Việt Nam thiết lập thành hình vòng cung, thứ tự từ Bắc xuống Nam được ghi nhận như sau:&lt;br /&gt;-HQ-16 chiếm vị trí cực Bắc của đội hình, sau đó là HQ-10.&lt;br /&gt;-Kế tiếp là HQ-4 và HQ-5 ở vị trí cực Nam.&lt;br /&gt;Các chiến hạm Trung Cộng cũng ở vị thế nghênh cản một chọi một như sau:&lt;br /&gt;-Kronshtadt 274 đối đầu HQ-5,&lt;br /&gt;-Kronshtadt 271 đối đầu HQ-4,&lt;br /&gt;-Trục Lôi Hạm (TLH) 396 đối đầu HQ-10,&lt;br /&gt;-Trục Lôi Hạm (TLH) 389 đối đầu HQ-16.&lt;br /&gt;Trên soái hạm HQ-5, Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật (SQ/CHCT) chỉ định mục tiêu cho từng chiến hạm, đó là những chiếc Kronshtadt và chiến hạm địch đối đầu.&lt;br /&gt;10 giờ 25 phút sáng ngày 19/01/1974, trận hải chiến tại Hoàng Sa khởi đầu.&lt;br /&gt;“Bắn !!”&lt;br /&gt;Lệnh tác xạ đồng loạt vào các chiến hạm địch được ban hành từ soái hạm HQ-5 vào lúc 10 giờ 25 phút sáng.&lt;br /&gt;Ðến đây, cần mở một dấu ngoặc để tìm câu trả lời đúng nhất cho nghi vấn: chiến hạm Việt-Nam Cộng-Hòa (VNCH) hay Trung Cộng đã khai hỏa trước mở đầu trận hải chiến? Theo các tài liệu của Việt-Nam Cộng-Hòa (VNCH) trước năm 1975, các chiến hạm Trung Cộng đã bắn trước. Ngay sau khi xảy ra trận hải chiến vào ngày thứ bảy 19 tháng 1, phát ngôn viên quân sự của Việt-Nam Cộng-Hoà (VNCH) là Trung Tá Lê Trung Hiền đã tuyên bố trong một buổi họp báo có các thông tín viên quốc tế tham dự rằng: "Hồi 10 giờ 22 phút sáng nay, một chiến hạm Trung Cộng đã nổ súng bắn vào một tầu tuần dương (cutter) của Việt-Nam Cộng-Hòa (VNCH) tại Hoàng Sa. Chiến hạm Việt-Nam Cộng-Hòa (VNCH) bắn trả để tự vệ khiến tầu Trung Cộng bị cháy. Tàu Việt-Nam Cộng-Hoà (VNCH) chỉ bị hư hại nhẹ". (Sài Gòn - tin Reuter ngày 19 tháng 1 năm 1974). Chiến tầu tuần dương của Hải Quân Việt-Nam Cộng-Hoà (HQVNCH) mà Trung Tá Hiền nói tới là loại tầu "WHEC" (White High Endurance Cutter) nguyên của Coast Guard Hoa Kỳ, khi chuyển giao cho Hải Quân Việt-Nam (HQVN) được gọi là "Tuần Dương Hạm" như HQ-5 Trần Bình Trọng, HQ-16 Lý Thường Kiệt tham chiến tại Hoàng Sa.&lt;br /&gt;Trong Bản Thông Tin (Communique) chính thức của bộ Ngoại Giao VNCH phát hành ngày 19/1/74 cũng loan báo nguyên văn như sau: "Sáng nay, ngày 19/1/74, vào hồi 10 giờ 20 sáng, một hộ tống hạm Trung Cộng loại Kronstadt đã nổ súng vào Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-04 của VNCH. Chiến hạm VN bắn trả để tự vệ khiến tầu Trung Cộng bị hư hại" (Trích Bản Thông Tin của bộ Ngoại Giao ngày 19/1/74 loan báo về việc Trung Cộng khơi mào những hành động quân sự tại vùng Hoàng Sa). Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư đúng ra mang chiến số "HQ-4" chứ không phải là "HQ-04" như đã đăng trong bản tin. Trong Hải Quân Việt-Nam (HQVN), chiến hạm mang số "HQ-04" là Hộ Tống Hạm (PC - Patrol Craft) Tụy Ðộng lúc đó đã phế thải. Chúng tôi chỉ muốn nói lại cho đúng vì các vị phát ngôn quân sự thường là sĩ quan Bộ Binh không mấy quen thuộc với các loại chiến hạm của Hải Quân, còn vị phát ngôn viên dân sự của bộ Ngoại Giao lại càng dễ lầm lẫn.&lt;br /&gt;Nhưng những lầm lẫn "kỹ thuật nhỏ" như HQ-4 và HQ-04 hay chiến hạm VNCH bị tầu Trung Cộng bắn là Tuần Dương Hạm hay Khu Trục Hạm đều không quan trọng. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn tìm bằng cớ chứng tỏ các nguồn tin chính thức của VNCH đều cho biết Trung Cộng các chiến hạm Trung Cộng đã nổ súng trước. Tuy nhiên, những lời tuyên bố chính thức, nhất là về mặt ngoại giao, lại chưa chắc đã là sự thật mà nhiều khi chỉ nhằm mục đích tìm thêm hậu thuẫn cho mình. Vì vậy, tới đây, vẫn chưa dứt khoát trả lời được câu hỏi "chiến hạm bên nào đã bắn trước?".&lt;br /&gt;Gần đây, rất may thay vì sự thật mỗi ngày một mai một với thời gian, chúng ta đã có câu trả lời chắc chắn. Câu trả lời đó nằm trong bài nói chuyện mới đây vào ngày 17/1/1998 nhan đề "Sau 24 năm, nhớ về Hải Chiến Hoàng Sa, tưởng niệm các Liệt Sĩ hy sinh vì Tổ Quốc" của HQ Trung Tá Vũ Hữu San, cựu Hạm Trưởng HQ-4. Trong bài nói chuyện rất cảm động này, Trung Tá San đã cùng với Trung Tá Quỳnh "xác nhận việc các chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-16 và HQ-10 chúng tôi đã bắn trước vào kẻ xâm lăng". Trung Tá San và Trung Tá Quỳnh, những Hạm Trưởng xuất sắc và quân nhân gương mẫu thuần túy đã đưa ra lý do rất chính đáng và hùng hồn để cần nói lên sự thật này rằng: "Sợ gì mà không nói Hải Quân Việt Nam bắn trước? Giặc vào nhà, ta phải đẩy lui chúng!" Lý do của các vị Hạm Trưởng đáng kính này cũng oai dũng như khi họ đứng trên đài chỉ huy, ra lệnh cho chiến hạm bắn thẳng vào tầu địch năm xưa tại Hoàng Sa.&lt;br /&gt;Ðể kiểm chứng thêm, mới đây chúng tôi cũng nói chuyện khá nhiều lần với cựu HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh và được ông xác nhận việc các chiến hạm VNCH bắn vào tầu địch trước là đúng vì chính ông đã ra lệnh tác xạ mở đầu trận hải chiến tại Hoàng Sa theo lệnh của SQ/CHCHT.&lt;br /&gt;Trở lại các diễn tiến của trận hải chiến Hoàng Sa. Ngay sau khi nhận đuợc lệnh tác xạ chuyển đi từ soái hạm HQ-5, các chiến hạm VNCH đồng loạt khai hỏa vào mục tiêu được chỉ định là các chiến hạm địch đối đầu. Các khẩu đại bác 40 ly và 20 ly tác xạ rất chính xác và hiệu quả vì có nhịp bắn nhanh và mục tiêu lớn lại nằm trong tầm tác xạ hữu hiệu. Các khẩu đại bác 76 ly trên Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư tác xạ cũng rất chính xác nhưng nhịp bắn không được nhanh vì hệ thống kiểm xạ viễn khiển bị hỏng. Những giàn đại pháo 127 ly trên các Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng và Lý Thường Kiệt có nhịp bắn chậm hơn trong lúc các chiến hạm đôi bên vận chuyển với vận tốc cao nên rất khó nhắm vào mục tiêu. Riêng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ-10 vì chỉ còn một máy chánh nên xoay trở rất khó khăn và chậm chạp, giàn radar bất khiển dụng, tình trạng kỹ thuật không đuợc khả quan nên lâm vào tình thế rất bất lợi.&lt;br /&gt;Với chiến thuật "tốc chiến, tốc thắng", các chiến hạm VNCH chiếm được thượng phong vì bắn trước với cỡ súng lớn hơn. Các tầu Trung Cộng bị thiệt hại nhiều trong những phút đầu tiên này nhưng cũng bắn trả mãnh liệt. Trên Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 thuộc phân đội Bắc, lệnh tác xạ của Hạm Trưởng, HQ Trung Tá Lê Văn Thự, được đáp ứng ngay bằng quả đạn đầu tiên của khẩu đại pháo 127 ly do Trung Úy Ất làm trưởng khẩu. Sau đó, các khẩu đại bác 40 ly và 20 ly từ trước mũi đến sau lái thi nhau bắn vào tầu địch. Giống như như HQ-5, vũ khí chính của Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt là khẩu đại pháo 127 ly (5 inch) đặt tại sân trước. Cũng ở sân trước, đàng sau của khẩu đại pháo là giàn đại bác 40 ly đôi (2 nòng) nằm một tầng cao hơn ngay dưới đài chỉ huy. Hai bên hông đài chỉ huy là các khẩu đại bác 20 ly đôi (2 nòng). Tại sân sau có các khẩu đại bác 40 ly đơn, một bên tả hạm, một bên hữu hạm.&lt;br /&gt;Sau đây là lời tường thuật của của một nhân chứng, sĩ quan hải hành Ðào Dân (khóa 18 SQ/HQNT?) có mặt trên đài chỉ huy HQ-16 trong lúc xảy ra trận hải chiến:&lt;br /&gt;"Cả chiến hạm như bị giật lùi vì tiếng khai hỏa của đại pháo 127 ly. Những người trên đài chỉ huy chú tâm đến nỗi ai cũng có cảm tưởng mình nhìn thấy được đường đi của viên đại bác dầu tiên. Rồi tiếng nổ dồn ập của khẩu đại bác 40 ly đôi trước mũi và khẩu 40 ly đơn sau lái hữu hạm,cùng với tiếng nổ liên hồi của đại bác 20 ly làm thành một hòa âm khó tả. Khói thuốc súng từ trước mũi, sau lái, bong trên phía sau và ngay đài chỉ huy phía dưới bay lên làm mờ cả một vùng trời trên mhiến hạm ... Từ lỗ tròn của ổ đại bác 127 ly trước mũi, Trung Úy Ất đã đứng hẳn người lên, nhô cả thân mình lên trên ụ súng để tân mắt chứng kiến kết quả của những viên đạn đang nổ, điều chỉnh những sai sót. Tiếng oang oang thường ngày của Ất được dịp phát ra từ đó mà ở đài chỉ huy chúng tôi còn nghe được. "Lên hai độ", "xuống một độ", "bên phải", "bên trái một chút". Cả đài chỉ huy cùng chăm chú theo dõi từng viên đại pháo phát nổ xung quanh tầu địch, bỗng ồ lên như ong vỡ tổ: "Trúng rồi!" Tôi nhìn lên, chếch về phía bên phải mũi tàu, một chiến hạm địch đang bốc khói. Có lẽ là khói của viên đạn nổ tung ngay đài chỉ huy vì sau đó, dường như hoạt động của tầu này có phần chậm lại".&lt;br /&gt;Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ-10 là một thành phần của phân đội Bắc dưới quyền chỉ huy của HQ-16.&lt;br /&gt;Trong lúc hải chiến, HQ-10 nằm chếch về hướng Nam, cách HQ-16 chừng 1 hải lý. Vì là một tầu loại rà mìn được biến cải nên là chiến hạm nhỏ nhất, chậm nhất và nhỏ nhất trong số các chiến hạm VNCH tham chiến. Ngoài ra, ngay từ khi gia nhập Hải Ðội Hoàng Sa, tình trạng kỹ thuật của HQ-10 đã không được khả quan vì chỉ còn một máy chánh, radar lại bị hư. Trước đây, trên đường đi từ Ðà Nẵng ra Hoàng Sa vào ngày 18/1, soái hạm HQ-5 đã phải rời đội hình, bỏ HQ-10 lại phía sau vì chạy quá chậm. Tuy cần đi trước cho kịp giờ hẹn với các chiến hạm bạn tại Hoàng Sa, HQ-5 vẫn dùng radar của mình để hướng dẫn HQ-10 hải hành trong đêm. Vũ khí chính của HQ-10 là khẩu trọng pháo 76.2 ly đặt tại sân trước, 2 đại bác 40 ly đơn tại sân giữa và 4 đại bác 20 ly đặt hai bên hông đài chỉ huy và sân sau.&lt;br /&gt;Theo kế hoạch lúc ban đầu, phân đội Bắc có nhiệm vụ yểm trợ hải pháo để phân đội Nam đổ quân chiếm đảo Quang Hòa. Nhưng sau khi cuộc đổ bộ bất thành vì quân Trung Cộng trên đảo quá đông và tầu yểm trợ của chúng cũng rất nhiều - tổng Cộng 11 chiếc đủ loại - nên sau khi thảo luận kỹ càng, lực lượng VNCH quyết định tiêu diệt các chiến hạm địch trước. Ðây là một quyết định rất sáng suốt vì nếu phá được đoàn tầu yểm trợ, địch quân trên đảo sẽ bị cô lập và sẽ bị đánh tan dễ dàng.&lt;br /&gt;Do đó, HQ-10 cũng được chỉ định một mục tiêu tác xạ, đó là chiếc tầu Trung Cộng mang số T396. Theo lời tường thuật của các nhân chứng, chỉ trong vòng 5 phút đầu, các khẩu hải pháo trên HQ-10 đã bắn tê liệt phòng lái chiến hạm địch khiến chiếc tầu này không còn điều khiển được nữa, cứ chạy vòng vòng làm mồi cho hỏa lực chính xác của HQ-10.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;10_HQ-10BanChayTLH396CuaTCTrong 5 PhutDau&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, vì chỉ còn một máy, xoay trở rất khó khăn nên HQ-10 cũng bị trúng nhiều đạn địch.   &lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;10A_”ToQuocGhiOn”_CoTrungTa NguyVanTha&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hạm Trưởng, HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà bị tử trận, Hạm Phó là HQ Ðại Úy Nguyễn Thành Trí bị thương nặng. Sau khi bắn hạ tầu địch, cuối cùng Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo cũng bị chìm. Một số nhân viên xuống được bè đào thoát mang theo vị Hạm Phó, nhưng chẳng bao lâu, Ðại Úy Trí cũng đền nợ nước vì bị mất máu quá nhiều.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;10B_”ToQuocGhiOn”_CoThieuTa NguyenThanhTri.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về việc Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo bị chìm, có một số tài liệu nói rằng chiến hạm bị hỏa tiễn từ chiến hạm Trung Cộng bắn trúng đài chỉ huy. Tuy hải quân Trung Cộng có loại tầu Komar trang bị hỏa tiễn hải - hải (surface to surface missile) Styx nhưng lúc đó chưa có mặt tại Hoàng Sa, còn các loại tầu Kronshtadt và T.43 tham chiến chỉ trang bị hải pháo cổ điển thông thường, hỏa tiễn nếu có cũng chỉ là loại cá nhân (rocket) cầm tay. Vả lại, nếu có loại phi tiễn đĩnh Komar tham chiến thì có lẽ mục tiêu sẽ là những chiến hạm chủ lực lớn hơn chứ không phải HQ-10 là chiếc nhỏ và kém quan trọng nhất. Theo lời thuật lại của Trung Tá Vũ Hữu San, sau khi trận hải chiến đã chấm dứt, các chiến hạm ta quan sát thấy có 4 lượng sóng bạc đầu rất lớn đang từ hướng Ðông Bắc tiến lại rất nhanh. Rất có thể đây mới là các phi tiễn đĩnh Komar hay khinh tốc định Swatow của Trung Cộng từ căn cứ hải quân Yulin thuộc đảo Hải Nam kép xuống trợ chiến. Nói tóm lại, có nhiều phần vì HQ-10 vận chuyển khó khăn, bất lợi trong lúc hải chiến nên mới bị chìm vì trúng đạn của tầu địch.&lt;br /&gt;Mới đây, Hải Quân Trung Úy Nguyễn Ðông Mai là sĩ quan hải pháo có mặt trên HQ-10 trong trận hải chiến cũng cho biết về trường hợp HQ-10 bị bắn chìm như sau:&lt;br /&gt;"Khi trận đánh kết thúc, các chiến hạm bạn đã rời vùng, HQ-10 vì bị trúng đạn cháy hầm máy nên bất khiển dụng, ở lại một mình tại Hoàng Sa. Hai chiếc Kronshtadt mới tới tăng viện của Trung Cộng mang số 281 và 282 chạy quanh HQ-10 nhiều vòng và dùng hải pháo bắn chìm chiến hạm này".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;11_“ToQuocGhiOn”_HQ-10DaOLaiHoang-Sa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi có dịp thuận tiện, chúng tôi sẽ viết một bài chi tiết về trường hợp HQ-10 đi vào lòng biển mẹ Hoàng Sa.&lt;br /&gt;Trong số các tầu VNCH tham chiến, có lẽ chỉ có Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 mới xứng đáng mang danh "chiến hạm". Trong khi các "chiến hạm" khác tuy được gọi là Tuần Dương Hạm hay Hộ Tống Hạm, nhưng thật ra chỉ là loại tuần duyên (Coast Guard) hay tầu rà mìn của Hoa Kỳ. HQ-4 nguyên là một Khu Trục Hộ Tống Hạm được trang bị radar phòng không tối tân (DER - Destoyer Escort Radar). Vũ khí chính là hai giàn đại pháo 76.2 ly có radar kiểm xạ (radar control) với khả năng tự dò tìm góc độ và tầm xa để "khóa chặt" (lock on) mục tiêu. Ðó là nói về loại DER của Hải Quân Hoa Kỳ, nhưng khi chuyển giao cho Hải Quân Việt Nam, những trang bị tối tân đều đã bị tháo gỡ hay không còn xử dụng được nữa vì thiếu bảo trì hoặc cơ phận thay thế. Tuy hai khẩu đại pháo 76.2 ly, một tại sân trước và một tại sân sau vẫn còn, nhưng hệ thống kiểm xạ đã bất khiển dụng nên các vũ khí chính mất đi rất nhiều hiệu quả. Nếu các khẩu súng 76.2 ly còn chính xác và bắn nhanh như khi được đài kiểm xạ điều khiển giống như trong hải quân Hoa Kỳ, HQ-4 dưới sự chỉ huy đầy kinh nghiệm của Hạm Trưởng Vũ Hữu San đã bắn hạ dễ dàng các chiến hạm Trung Cộng. Nhưng rất tiếc, vào thời điểm năm 1974 khi Hoa Kỳ đã phủi tay và cuộc chiến tại Việt Nam gần tàn, khả năng tác chiến của HQ-4 đã giảm sút rất nhiều mặc dù thủy thủ đoàn rất thiện chiến. Một điểm khá bất lợi nữa là HQ-4 ngoài hai khẩu 76.2 ly, không có đại bác 40 ly bắn nhanh. Trong một trận hải chiến khi mục tiêu chỉ cách trên dưới một hải lý, một dàn 40 ly bắn nhanh sẽ có lợi thế hơn một khẩu 76.2 ly bắn chậm.&lt;br /&gt;Nhưng dù với những bất lợi nói trên, dưới quyền chỉ huy sáng suốt, kinh nghiệm của Hạm Trưởng Vũ Hữu San cùng sự quả cảm, gan dạ của thủy thủ đoàn, HQ-4 đã xứng đánh mang danh Khu Trục Hạm. Ngay sau khi nhận được lệnh tác xạ vào tầu địch, hai khẩu đại bác 76.2 ly đã khai hỏa chính xác trúng ngay tầu địch lúc đó chỉ cách khoảng 1,600 yards.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;12_HQ-4BanChayK271&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;12_Chỉ trong vòng vài phút đầu, chiếc Kronstadt 271 đã bị bắn cháy không còn khả năng tác chiến. Có nguồn tin nói rằng chiếc tầu này sau đó phát nổ và đã bị chìm. Nhưng cũng như những chiến hạm đồng đội khác, HQ-4 là một mục tiêu khá lớn cho tầu địch nên cũng bị trúng nhiều vết đạn, nhưng các máy móc chính, nhất là hệ hống truyền tin vẫn trong tình trạng khiển dụng tốt. Ðặc biệt, Trung Tá San cho biết vì HQ-4 là một chiến hạm khá lớn có nhiều tầng nên được trang bị một hệ thống quạt hút khổng lồ để các tầng bên dưới bớt nóng. Khi tác chiến, một viên đạn địch khi phát nổ đã thổi bay hệ thống quạt hút khổng lồ này. Tuy nhiên, những thiệt hại của HQ-4 được coi là nhẹ so với các chiến hạm bạn khác và vẫn còn khả năng tác chiến.&lt;br /&gt;Trên soái hạm HQ-5, khi lệnh tác chiến được ban hành, các ổ súng nổ dòn dã hướng về tầu địch. Trong lúc tác chiến, Hạm Trưởng, HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh, lo việc vận chuyển chiến hạm để vào vị trí tác xạ hữu hiệu nhất cũng như để tránh các vùng san hô, đá ngầm nguy hiểm trong khi Hạm Phó và Sĩ Quan Hải Pháo lo việc chỉ huy tác chiến.&lt;br /&gt;Mục tiêu của HQ-5 là chiếc Kronshtadt mang số 274 mặc dầu chống trả mãnh liệt nhưng bị hư hại nặng vì trúng nhiều đạn 40 ly và 20 ly nên bị loại ra khỏi vòng chiến. Ðể dễ bề lẩn tránh, tầu địch phun ra một màn khói ngụy trang khiến HQ-5 khó nhận biết chính xác mục tiêu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;13_K274BiChayPhaiUiBaiNamDaoQuang-Hoa&lt;br /&gt;10 giờ 25 sáng 19/01/1974 các ồ súng trên HQ-5 đều bị trở ngại tác xạ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, bị trúng đạn quá nặng, chiếc Kronshtadt này bắt buộc phải ủi vô bờ san hô phía Nam đảo Quang Hòa để tránh bị chìm.&lt;br /&gt;Tuy đã loại được đối thủ, nhưng tình trạng tác chiến của HQ-5 cũng không mấy khả quan.&lt;br /&gt;Tới khoảng 10 giờ 50 sáng tức là vào phút thứ 25 của trận chiến, tất cả các ổ súng lớn trên chiến hạm đều bị trở ngại tác xạ không bắn được, ngoại trừ khẩu đại bác 40 ly bên tả hạm do Thượng Sĩ Tài làm trưởng khẩu. Như vậy, nguyên hông phải của chiến hạm không còn trọng pháo để bảo vệ. Nguy hiểm hơn nữa, các chiến hạm còn lại của Trung Cộng tập trung lực lượng nhắm vào HQ-5 như để trả thù cho đồng bọn. Tuy bị bao vây và bắt đầu bị trúng nhiều đạn địch, khẩu đại bác 40 ly độc nhất còn lại phản pháo ác liệt khiến địch phải chùn lại.&lt;br /&gt;Trung Tá San cho biết cũng trong lúc đó, các chiến hạm VNCH quan sát thấy có bốn lượng sóng lớn trắng xóa đang tiến tới từ hướng Ðông Bắc với vận tốc rất nhanh và có tin các phi tiễn đĩnh loại Komar và Hộ Tống Hạm loại Hai nan của địch đang trên đường đến tiếp viện. Trước tình thế bất lợi, vả lại các chiến hạm chính của địch tham chiến cũng đã bị hư hại, Ðại Tá Hà Văn Ngạc, SQ/CHCT đã sáng suốt ra lệnh cho các chiến hạm VNCH rời vùng giao tranh để bảo toàn lực lượng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;14_BaoToanLucLuong&lt;br /&gt;11 giờ sáng ngày 19/01/1974 các chiến hạm Hải Quân Việt-Nam rời vùng giao tranh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi rời khỏi vùng giao tranh vào khoảng 11 giờ sáng ngày 19/1, hải đội VNCH cũng chia làm hai cánh. HQ-16 vì hoạt động ở khu phía Bắc và đã bị thiệt hại khá nặng có nguy cơ bị chìm nên đã đổi đường ngược lên phía Bắc, hướng về đảo Hoàng Sa rồi sau đó di chuyển về hướng Tây nhắm về Ðà Nẵng.&lt;br /&gt;Trong khi đó phân đội Nam gồm HQ-4 và HQ-5 hải hành về hướng Ðông Nam. Phía Trung Cộng cũng không còn sức để đuổi theo vì tất cả các chiến hạm tham chiến đều đã bị chìm hay lên cạn.&lt;br /&gt;Khoảng hai tiếng đồng hồ sau, vào lúc 2 giờ 15 phút, phân đội Nam nhận được lệnh quay trở lại cố thủ tại Hoàng Sa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;15_QuanLenhCoThuHoang-Sa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các chiến hạm liền đổi đường về hướng Tây Bắc trở lại vùng đã xảy ra trận hải chiến hồi sáng.&lt;br /&gt;Khi đã gần tới Hoàng Sa, vào lúc 5 giờ 20 chiều, lệnh cố thủ được hủy bỏ, phân đội Nam được lệnh trở về Ðà Nẵng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;16_QuanLenhDuocHuyBo&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về lệnh "cố thủ" này, Trung Tá Vũ Hữu San, Hạm Trưởng Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 đã viết trong bài nói chuyện kỷ niệm 24 năm trận hải chiến Hoàng Sa, đọc tại San Jose vào ngày 17 tháng 1 năm 1998 nguyên văn như sau:&lt;br /&gt;"Sau Hoàng Sa 24 năm, chúng tôi còn sống và vẫn đi tìm trong mấy chục triệu sách thư viện nhưng cho đến nay, đã không thể nào tìm thấy được cái lý tưởng nào cao xa hơn được biểu lộ qua hình ảnh Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 và Tuần Dương hạm Trần Bình Trọng HQ-5 tuân hành quân lệnh chuẩn bị lên cạn phơi xác mình. Quân lịnh như núi! Lịnh này đúng hay sai cũng là lệnh! Ðến chiều tối, lệnh hải hành rời bỏ Hoàng Sa mới được ban ra và chúng tôi các chiến hạm mang đầy vết thương vẫn còn đang rỉ máu, được về Ðà Nẵng để lo mai táng cho các bạn đã hy sinh, đưa đồng đội bị thương vào quân y viện và sửa chữa chiến hạm..."&lt;br /&gt;Những lời nói hào hùng đầy khí tiết của Trung Tá San tưởng đã diễn tả quá đủ tinh thần chiến đấu bảo vệ lãnh thổ, vì nước quên mình của các chiến sĩ HQ/VNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;****Nguời viết khi đọc đến đây nghỉ rằng quân Trung Cộng đang trấn đóng trên các đảo bị một phen teo…. khi thấy HQ-4, HQ-5 quay đầu trở lại!!!! &lt;br /&gt;                                                                                                                                  &lt;br /&gt;17_HamDoiVeDa-Nang&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðến ngày 20 tháng 1, các chiến hạm HQ/VNCH về tới Ðà Nẵng. HQ-4 và HQ-5 cập cầu Thống Nhất tại bến thương cảng hối 7 giờ 30 sáng. Riêng Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 được Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-6 hộ tống cập cầu Tiên Sha thuộc BTL/V1DH vào lúc 10 giờ sáng.&lt;br /&gt;VII. Tổng Kết Thiệt Hại Ðôi Bên&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; 1. Phía Việt Nam Cộng Hòa&lt;br /&gt;Thiệt hại về phía HQ/VNCH được ghi nhận ở mức trung bình, gồm 1 chiến hạm bị chìm và 3 chiếc khác bị hư hại. Về phần nhân mạng, số tử thương và bị thương tương đối nhẹ. Ngoài ra, còn một số binh sĩ và nhân viên dân chính bị bắt giữ vào ngày 20/01/1974 khi phi cơ và chiến hạm Trung Cộng oanh kích và pháo kích rồi cho quân đổ bộ lên các đảo. Nhóm tù binh này gồm 14 nhân viên thuộc HQ-4 được đổ bộ lên đảo Cam Tuyền vào khoảng 10 giờ sáng ngày 18/01/1974 và 34 binh sĩ Ðịa Phương Quân cùng nhân viên khí tượng, trong số này có một nhân viên dân chính Hoa Kỳ tên Gerald Emil Kosh. Những người bị bắt bị đưa về đảo Hải Nam vào ngày 21/01/1974 và sau cùng bị giam tại nhà lao Thu Dung thuộc tỉnh Quảng Châu. Năm thương bệnh binh được trao trả vào ngày 31/01/1974 tại cầu Shumchum là ranh giới giữa Hồng Kông và tỉnh Quảng Ðông. Sau 27 ngày bị giam giữ, trước sự đòi hỏi hợp lý quả VNCH và dưới áp lực của giới ngoại giao cũng như hội Hồng Thập Tự quốc tế, Trung Cộng đã phải phóng thích toàn bộ số 43 tù binh còn lại.&lt;br /&gt;Sau đây là chi tiết về những thiệt hại về phía HQ/VNCH:&lt;br /&gt;a. Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ-10&lt;br /&gt;Ðây là chiến hạm nhỏ nhất và có hỏa lực yếu nhất trong số các chiến hạm VNCH tham chiến. Ngoài ra, tình trạng kỹ thuật còn không được khả quan khiến HQ-10 lại càng thêm bất lợi. Sau khi bắn cháy mục tiêu được chỉ định là chiến hạm Trung Cộng mang số 396, HQ-10 cũng bị bắn trúng đài chỉ huy khiến Hạm Trưởng bị tử thương và hệ thống truyền tin bị tê liệt. Một số nhân chứng từ các chiến hạm bạn quan sát còn cho biết chiếc máy chánh duy nhất còn lại có lẽ cũng bị hư hại nên HQ-10 không thể vận chuyển được nữa, do đó chiến hạm đã bị tầu địch bắn chìm. Số nhân viên còn lại gồm 23 người, trong đó có Hạm Phó lúc đó bị trọng thương đã xuống 4 chiếc bè cấp cứu đào thoát. Trong lúc trôi dạt trên biển cả, vị Hạm Phó và một nhân viên khác từ trần nên đã được thủy táng. Sau bốn ngày ba đêm lênh đênh trên đại dương không đồ ăn và nước uống, nhóm thủy thủ gặp nạn được chiếc tầu dầu SKOPIONELLA của công ty Shell trên đường đi từ Hồng Kông đến Singapore vớt tại vị trí các Ðà Nẵng chừng 150 hải lý về hướng Ðông.&lt;br /&gt;b. Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16&lt;br /&gt;HQ-16 thuộc phân đội Bắc cùng với HQ-10 nên cũng bị thiệt hại khá nặng. Trong lúc dùng các khẩu hải pháo 127 ly và 40 ly loại chiếc tầu Trung Cộng mang số 389 ra khỏi vòng chiến, HQ-16 cũng bị hư hại khá nặng. Hầm đạn 127 ly phía trước mũi bị trúng đạn khiến nước tràn vào mỗi khi mũi tầu chúc xuống nên sau đó đã phải cô lập. Một máy điện bị bắn hư và giây điện đứt làm hệ thống điện khiến hầm máy chỗ nào cũng bị điện giật, do đó nhân viên cơ khí và điện khí phải di tản. Nguy hiểm hơn cả là hông tầu ngang hầm máy chánh tả bị thủng một lỗ lớn ngay tầm nước khiến nước biển tràn vào như thác lũ. Chiến hạm mỗi lúc một nghiêng thêm về bên trái và có nguy cơ bị chìm nếu không nhém được lỗ thủng. Nhưng sau cùng, nhờ sĩ quan cơ khí trưởng là Ðại Úy Hiệp điều động nhân viên phòng tai và cơ khí cô lập được hầm máy tả, chiến hạm vẫn tự vận chuyển được dù chỉ còn máy chánh hữu. Vì hầm đạn đã bị cô lập khiến khẩu 127 ly không còn bắn được nữa, ngoài ra chỉ còn một máy và vì tầu bị mất điện hoàn toàn nên hệ truyền tin và tay lái điện cũng bị tê liệt, vả lại, các tầu địch cũng đã bị cháy hay bị chìm, nên HQ-16 rời vòng chiến, di chuyển về hướng Bắc để giữ an toàn.&lt;br /&gt;Riêng toán nhân viên 15 người thuộc HQ-16 do Hải Quân Trung Úy Lâm Trí Liêm chỉ huy đổ bộ lên đảo Cam Tuyền (Robert) vào ngày 17/01/1974 đã bị mất liên lạc với chiến hạm sau trận hải chiến nên phải tự rút khỏi đảo bằng xuồng cao su. Sau 10 ngày lênh đênh trên biển cả, những người này đã được ghe đánh cá cứu thoát đưa về Qui Nhơn nhưng có một người bị chết vì kiệt lực, đó là Hạ Sĩ Nhất Quản Kho Nguyễn Văn Duyên. Toán đổ bộ 15 người này sau đó đã được đặc cách thăng một cấp.&lt;br /&gt;c. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4&lt;br /&gt;Là chiến hạm có hỏa lực mạnh với hai đại bác 76 ly nên HQ-4 tiêu diệt mục tiêu không mấy khó khăn.&lt;br /&gt;Theo báo cáo, chiếc Kronshtadt 271 đã bị HQ-4 bắn cháy, sau đó phát nổ và chìm ngay từ những phút đầu của cuộc hải chiến.&lt;br /&gt;Tuy nhiên, trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó, HQ-4 cũng bị trúng nhiều phát đạn của địch quân. Thiệt hại về nhân mạng không đáng kể; thiệt hại vật chất trên chiến hạm được ghi nhận ở mức trung bình với hàng trăm vết đạn đủ loại. Trong số cách chiến hạm HQ/VNCH tham chiến, HQ-4 bị thiệt hại tương đối nhẹ nhất. Hai khẩu trọng pháo 76 ly bị trở ngại tác xạ nhưng sau đó đã được sửa chữa ngay trong lúc tác chiến, máy chánh, máy điện và hệ thống truyền tin khiển dụng tốt, vì vậy HQ-4 coi như vẫn còn đầy đủ khả năng tác chiến.&lt;br /&gt;d. Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5&lt;br /&gt;HQ-5 là nơi HQ Ðại Tá Hà Văn Ngạc, SQ/CHCT đặt bộ tham mưu nên được coi là soái hạm.&lt;br /&gt;Theo bản báo cáo hậu hành quân, tất cả hỏa lực của HQ-5 tập trung vào chiếc Kronshtadt mang số 274.&lt;br /&gt;Không bao lâu, mục tiêu bị bốc cháy vì trúng nhiều đạn 40 ly và 20 ly nên bốc cháy.&lt;br /&gt;Tàu địch phải ủi vào bãi san hô sát đảo Quang Hòa để khỏi bị chìm, do đó coi như bị hư hại hoàn toàn.&lt;br /&gt;Về phần HQ-5 cũng bị trúng đạn nhiều nơi, các ổ trọng pháo chính 127 ly và 40 ly đôi trước mũi cũng bị trở ngại tác xạ, chỉ còn khẩu 40 ly bên tả hạm xử dụng được. Chính khẩu súng này đã bắn chặn không cho các tầu địch tới gần. Thiệt hại về nhân mạng trên HQ-5 gồm 1 sĩ quan chết, 3 bị thương; hạ sĩ quan 2 chết 4 bị thương; đoàn viên 9 bị thương. Tổng Cộng 3 chết 16 bị thương. Về vật chất, nhiều kho phòng, máy móc và hệ thống giây, ống bị trúng đạn. Lửa bốc cháy cũng như nước tràn vào tại nhiều nơi trên chiến hạm. Nhân viên phòng tai và toán hải kích tăng phái đã xử dụng tối đa phương tiện cơ hữu để cứu thủy và cứa hỏa. Hạm trưởng đã ra lệnh làm ngập nước hầm đạn 127 ly để tránh đạn phát nổ vì kho điện tử và kho cơ khí bị bốc cháy. Tuy bị hư hại khá trầm trọng nhưng HQ-5 không gặp nguy cơ bị chìm hay bị tiêu hủy vì cơ khí trưởng là Thiếu tá CK Trần Ðắc Nguyền là một sĩ quan nhiều kinh nghiệm đã đắc lực điều đông nhân viên dập tắt các đám cháy, bít các lỗ thủng và sửa chữa cá máy móc hư hỏng. Do đó, chỉ sau một thời gian ngắn, HQ-5 đã trở về tình trạng hoạt động gần như bình thường.&lt;br /&gt; 2. Phía Trung Cộng&lt;br /&gt;Cả 4 chiến hạm Trung Cộng tham chiến đều bị trúng đạn.&lt;br /&gt;Một tầu Kronstadt và một Trục Lôi Hạm bị chìm tại chỗ; hai chiếc còn lại bị hư hại nặng phải ủi lên bãi san hô nên coi như phế thải.&lt;br /&gt;Về nhân mạng thiệt hại không rõ nhưng chắc là khá nặng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;*** Dưới đây là tài liệu bổ túc từ Yên Tử Cư Sĩ Trần-Đại-Sỹ về phần tổn thất của hải quânTrung Cộng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1, Lực lượng tham chiến&lt;br /&gt;_ Hộ tống hạm Kronstadt, ký số 271, hạm trưởng là Đại-tá Vương Kỳ Uy, tử thương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ Hộ tống hạm Kronstadt, ký số 274, hạm trưởng là Đại-tá Quan Đức. Đây là soái hạm của chiến dịch. Tư lệnh mặt trận là Đô-đốc Phương Quang Kinh, Tư-lệnh phó hạm đội Nam-hải của Trung-quốc với bộ tham mưu đi trên chiến hạm này. Khoảng giữa trận chiến, ông cùng bộ tham mưu tử thương (1 Đô-đốc, 4 Đại-tá, 6 Trung-tá, 2 Thiếu-tá, và 7 sĩ quan cấp úy).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ Trục lôi hạm, ký số 389, hạm trưởng là Trung-tá Triệu Quát, tử thương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ Trục lôi hạm, ký số 396, hạm trưởng là Đại-tá Diệp Mạnh Hải, tử thương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ Phi tiễn đỉnh Komar 133, trang bị hỏa tiễn địa-địa Styx hạm trưởng là Thiếu-tá Tôn Quân Anh,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ Phi tiễn đỉnh Komar 137, trang bị hỏa tiễn đĩa địa Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Mạc Quang Đại,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ Phi tiễn đỉnh Komar 139, trang bị hỏa tiễn địa địa Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Tạ Quỳ,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ Phi tiễn đỉnh Komar 145, trang bị hỏa tiễn địa-địa Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Ngụy Như.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ 6 Hải vận hạm chở quân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2, Lực lượng trừ bị,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ 2 Tuần dương hạm,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ 4 Pháo-hạm,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ 4 Khu trục hạm trang bị hỏa tiễn Kianjiang.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ 2 Phi đội MIG 19,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ 2 phi đội MIG 21,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do chính Đô-đốc Tư-lệnh hạm đội Nam-hải chỉ huy. Chúng tôi không biết tên ông.&lt;br /&gt;Về phía Trung-quốc:&lt;br /&gt;_ Tư lệnh mặt trận, bộ tham mưu và 4 hạm trưởng tử thương,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ Hộ tống hạm 274 bị chìm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ Hộ tống hạm 271 và hai trục lôi hạm 389-396 bị hư hại nặng phải ủi bải, sau đó phải phá hủy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_ 4 ngư thuyền chở quân bị chìm.&lt;br /&gt;http://www.vuhuusan.net/bsTranDaiSy.htm&lt;br /&gt;**** Tài liệu bổ túc về phía Trung Cộng****&lt;br /&gt;Các chiến hạm tham chiến&lt;br /&gt;Khi các chiến hạm của Hải Quân Việt-Nam Cộng-Hoà được phái tới Hoàng-Sa, phía Trung Cộng cũng đã tăng cường lực lượng hải quân cuả họ.&lt;br /&gt;Lúc đầu chỉ có hai ngư thuyền vỏ trang 402 và 407, sau đó thêm nhiều chiến hạm nhập vùng. Về tổng số chiến hạm tham chiến, tài liệu của Trung Cộng ghi rất rõ ràng.&lt;br /&gt;Họ cho biết như sau:&lt;br /&gt;“Ngày 17 tháng 1, Quân Ủy Trung Ương ra lệnh Hạm Đội Nam Hải lập tức phái chiến hạm tuần tiểu tại Hoàng Sa, đồng thời ra lệnh Quân Khu Hải Nam gửi quân lính theo tàu ra giử đảo. Theo lệnh Quân Ủy Trung Ương, quân khu Quảng Châu ra lệnh Hạm Đội Nam Hải phái hai Trục Lôi Hạm 396 và 389 (ghi chú của tác giả: tạm gọi tắt là T396 và T389) thuộc Phân Đội Trục Lôi 10 căn cứ tại Quảng Châu và hai Hộ Tống Hạm loại Kronstadt271 và 274 (ghi chú của tác giả: tạm gọi tắt là K-271 và K274) thuộc Phân Đội chống Tìm Thủy Đỉnh (TTĐ) 73 căn cứ tại Yulin, lên đường ra Hoàng Sa vào các ngày 17 và 18 để tuần tiễu. Ngoài ra, Quân Khu Hải Nam còn phái 4 Đại Đội Bộ Binh để chiếm đóng các đảo Vĩnh Lạc, Cam Tuyền và Quang Hòa. Thêm vào đó, căn cứ Hải Quân Quảng Châu còn phái 2 chiến hạm K-281 và K-282 thuộc Phân Đội Chống Tìềm Thủy Đỉnh 74 tới Hoàng Sa sau đó là lực lượng thành phần tiếp ứng. Toàn thể lực lượng được đặt dưới quyền chỉ huy cuả Tư Lệnh Phó Hạm Đội Nam Hải tên Wei Ming Sen lúc đó có mặt tại căn cứ Hải Quân Yulin nằm về phía Nam đảo Nam Hải. Bộ Tư Lệnh Hành Quân được đặt trên soái hạm K-271 thuộc Phân Đội 73. Về không yểm, quân khu Quảng Châu ra lệnh Phi Đoàn 22 thuộc Hạm Đội Nam Hải cử hai phi cơ túc trực bao vùng, đồng thời yêu cầu Không Quân thuộc Quảng Châu sẵn sàng yểm trợ. Nếu nhìn vào lực lượng Hải, Không và Lục quân được phái ra Hoàng Sa, mọi người đều thấy chúng ta chỉ đưa ra một lực lượng quân sự rất hạn chế với mục đích bảo vệ Hoàng Sa chứ không phải tiêu diệt hạm đội địch….”    &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;18_CanCuTiemThuyDinh_Yulin&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Căn cứ tàu ngầm hải quân Trung Cộng tại Yulin&lt;br /&gt;Một chi tiếc khá quan trọng là Trung Cộng cũng đã gửi 2 tiềm thủy đỉnh tham dự chiến dịch Hoàng Sa, nhưng sau khi trận chiến đã kết thúc. Tác gỉa Lu Qi Minh trong bài viết nhan đề “Tiềm Thủy Đỉnh Trung Cộng Đầu Tiên Tham Dự Chiến Dịch” cho biết như sau:&lt;br /&gt;“Vì lo ngại Hoa Kỳ và Việt-Nam Cộng-Hoà không chịu rút lui dù đã bị thất bại, nên Hạm Đội Trung Cộng vẫn phải gửi chiến hạm tăng cường lực lượng tại Hoàng Sa. Lúc đó trời bão, biển động mạnh nên các chiến hạm không rời bến được, do đó hai tiềm thủy đĩnh được dùng vào công tác chiến đấu nên phải có sự chấp thuận đặc biệt của chủ tịch Mao Trạch Đông. Hai tiềm thủy đĩnh dùng trong công tác mang số hiệu 282 và 289.”   &lt;br /&gt;Tóm lại tổng số tàu tham chiến cuả Trung Cộng gồm:&lt;br /&gt;-2 Ngư Thuyền võ trang 402 và 407.&lt;br /&gt;-2 Trục Lôi Hạm 389 và 396.&lt;br /&gt;-2 Kronstadt 271 và 274.&lt;br /&gt;-2 Kronstadt 281 và 282 tăng viện đã bắn chìm HQ-10 ( lúc nầy HQ-10 đã hoàn toàn bất khiển dụng ) sau khi tới Hoàng Sa lúc 11 giờ 49 phút ngày 19/07/1974 .&lt;br /&gt;-2 Tiềm Thủy Đĩnh 282 và 289 cũng đã tới Hoàng Sa sau đó để tăng cường tuần tiểu và đề phòng lực lượng Hải Quân Việt-Nam Cộng-Hòa trở lại tái chiếm quần đảo Hoàng Sa.&lt;br /&gt;Thái độ của bộ chính trị Hà-Nội trong trận “Hải Chiến Hoàng-Sa”.&lt;br /&gt;Trong lúc Hải Quân Việt-Nam Cộng-Hoà đang một sống một chết với kẻ thù truyền kiếp “Hán tộc” trên biển Đông để bảo vệ “biên cương lãnh hải” thì quân đội cộng sản Việt gian đang làm gì?&lt;br /&gt;Bộ chính trị Hà-Nội miệng “im như thóc”, không dám lên tiếng chỉ trích quan thầy Trung Cộng, dù rằng chỉ là một tiếng “ho!”&lt;br /&gt;Cộng sản Việt gian bắc bộ phủ Hà-Nội đang tiến quân theo đường mòn “ô huyền ồ hơ ồ hồ, i sắc í chờ í chí, i nhờ in mờ inh minh Trail” dọc dãy Trường Sơn để tấn chiếm miền Nam qua những trận địa pháo và chiến thuật biển người trong các mặt trận Bình-Long, An-Lộc, Komtum, Quảng-Trị.&lt;br /&gt;Để có đủ quân tiến chiếm miền Nam, bắc bộ phủ Hà-Nội đã để cho trên ba trăm ngàn (con số chính xác là 320.000) quân Trung Cộng trấn đóng Hà-Nội kể từ những năm 1965-1970.&lt;br /&gt;Thật đúng với với thái độ của kẻ “khôn nhà dại chợ!” nói chính xác hơn là kẻ “buôn dân bán nước”.&lt;br /&gt;Trích trong tài liệu của ông Francis James và các website dưới đây:&lt;br /&gt;(Source: Sydney Morning Herald, 13 October 1968, p 6).&lt;br /&gt;http://www.penrithcity.nsw.gov.au/index.asp?id=2411&lt;br /&gt;http://headquarterbattery.com/hq035.html&lt;br /&gt;http://www.vva.org/veteran/1006/chinese_military.html&lt;br /&gt;http://news.bbc.co.uk/onthisday/hi/dates/stories/february/17/newsid_2547000/2547811.stm&lt;br /&gt;http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,948481,00.html&lt;br /&gt;http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,948481,00.html&lt;br /&gt;19_DuongMonHCM&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con đường đã đưa những người dân vô tội miền Bắc trở thành “Sinh Bắc Tử Nam” cuả bộ chính trị Việt gian Hà-Nội.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;20_HCMTrail_TiepVan&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đã bao nhiêu người thanh niên vô tội phải bỏ mình trên đoạn đừng núi hiểm nghèo nầy chỉ với mục đích xâm chiếm miền Nam để rồi dâng cho Tàu Cộng!?&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Trong lúc dân quân miền Nam đang đối đầu với kẻ thù truyền kiếp “Hán tộc” phương Bắc, bọn Việt gian Hà-Nội đem hằng mấy chục sư đoàn tiến chiếm miền Nam.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;21_MatTranAn-Loc&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trận địa An-Lộc lịch sữ ghi danh.&lt;br /&gt;Trận địa pháo của Việt gian không đổ xuống đầu Bắc quân “Hán tộc” mà lại trút xuống đầu dân oan miền Nam Việt-Nam trong trận địa “An-Lộc Oai Hùng”.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;22_ThanhPhoAnLocTanNatViPhaoDap&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tăng cuả Nga, Tàu Cộng đã phải phơi mình trên trận địa An-Lộc.&lt;br /&gt;Cảnh điêu tàn của tỉnh nhỏ An-Lộc sau trận mưa pháo cuả Bắc quân Việt gian, đau đớn thay những vũ khí nầy lại do Nga Xô và đặc biệt là của Tàu cộng “Hán tộc” cung cấp cho Việt gian Hà-Nội bắn giết dân lành miền Nam Việt-Nam.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;23_KhongAnhAn-Loc&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không ảnh điêu tàn của An-Lộc sau những trận mưa pháo cuả Việt gian Hà-Nội.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;24_ToanCanhAnLoc&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, những gương mặt rất “sửa”, nhưng tâm hồn đã trưởng thành trước tuổi của những chiến-sĩ Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa nói lên sức sống của dân tộc và lý tưởng “Bảo Quốc An Dân” của dân chúng miền Nam.&lt;br /&gt;Các anh đã đội pháo của bắc quân Trung Cộng mà đi!&lt;br /&gt;Đi đội pháo để cho sự tồn vong của dân chúng miền Nam Việt-Nam trên 20 năm!&lt;br /&gt;Người dân miền Nam vẫn còn nhớ những hình ảnh “thương đau khóc hận” nầy chứ? &lt;br /&gt;25_ChienSiSuDoan18BB                    &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giờ nầy anh ở đâu?&lt;br /&gt;Vẫn đang nỗi trôi theo vận nước?&lt;br /&gt;Và giọt nước mắt nào đã nhỏ xuống cho anh?&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;VIII. Thái độ và phản ứng của Hoa Kỳ&lt;br /&gt;Vào ngày 19 tháng 1, ngay sau khi xảy ra trận hải chiến tại Hoàng Sa, một nhân viên giao tế thuộc bộ Ngoại Gia Hoa Kỳ là ông John F. King tuyên bố chính thức tại Hoa Thịnh Ðốn: "Hoa Kỳ không nghiêng về phe nào, tuy nhiên chúng tôi rất muốn có một sự giàn xếp ôn hòa". Khi trả lời câu hỏi của các phóng viên, ông King nói tiếp: "Hoa Kỳ không dính dáng gì đến việc tranh chấp tại Hoàng Sa". Như vậy, ít nhất về mặt ngoại giao, Hoa Kỳ đã chọn thái độ trung lập.&lt;br /&gt;Sang ngày 21 tháng 1, bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho biết đã chỉ thị cho Ðệ Thất Hạm Ði Hoa Kỳ đang hoạt động tại vùng Thái Bình Dương không được can dự vào các trận đánh giữa VNCH và Trung Cộng để dành quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa. Trong lúc đó, nguồn tin UPI từ Sài Gòn cho biết chính Ðại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin cũng đã từ chối lời yêu cầu của chính phủ VNCH, không chịu cung cấp chiến hạm và phi cơ trực thăng tiếp cứu những thủy thủ Việt Nam và một người Mỹ lâm nạn. Tại Hoa Thịnh Ðốn, phát ngôn viên bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ông Jerry W. Friedman tuyên bố không hay biết gì về lời yêu cầu trợ giúp này. Nguồn tin AP rõ ràng hơn, cho biết chính phủ VNCH đã yêu cầu Ðệ Thất Hạm Ðội cho chiến hạm và phi cơ trực thăng tìm kiếm thủy thủ đoàn của một chiến hạm Việt Nam với 82 thủy thủ đoàn đã bị chìm tại Hoàng Sa.&lt;br /&gt;Khi được hỏi về việc có một người Mỹ cũng bị mất tích tại Hoàng Sa, ông King giải thích: "người Mỹ này là một nhân viên dân chính làm việc cho cơ quan DAO tại Sài Gòn và đã ra Hoàng Sa theo lời mời của vị Tư Lệnh Hải Quân tại Ðà Nẵng. Cuộc hành trình này là một chuyến viếng thăm thông thường dự trù trong 3 ngày và đã được xếp đặt trước khi xảy ra cuộc đụng độ". Ông cũng cho biết không có tin tức gì về số phận của người Mỹ này.&lt;br /&gt;Ngày 22 tháng 1, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger chính thức lên tiếng từ chối không chịu bênh vực phe nào trong cuộc tranh chấp tại Hoàng Sa. Ông Kissinger cũng nói Hoa Kỳ "rất tiếc đã có cuộc đụng độ quân sự tại Hoàng Sa". Trong buổi họp báo. Ngoại Trưởng Hoa Kỳ cho biết ưu tiên hiện tại chưa hẳn là vấn đề thiết lập quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh, nhưng là việc đôi bên cộng tác chặt chẽ và cải thiện mối dây liên lạc trên niều lãnh vực khác nhau.&lt;br /&gt;Sang ngày 23 tháng 1, giới chức Hoa Kỳ cho biết người Mỹ bị mất tích tại Hoàng Sa thuộc nhóm nhân viên dân chính làm việc cho bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Ðây là nhóm "quan sát viên" có nhiệm vụ theo dõi và báo cáo những hoạt động và hiệu năng của quân đội VNCH. Phát ngôn viên Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ giải thích: "Họ không phải là cố vấn mà chỉ là các quan sát viên có nhiệm vụ báo cáo về việc xử dụng cũng như hiệu năng của các chiến cụ". Nhóm này chỉ có vào khoảng trên dưới mười người và còn được gọi là những "liên lạc viên". Giới chức ngoại giao tin tưởng rằng Hoa Kỳ đã không vi phạm đạo luật của Quốc Hội ngăn cấm việc xử dụng quân lực Hoa Kỳ tại Việt Nam và cũng không vi phạm thỏa hiệp Paris.&lt;br /&gt;Theo nguồn tin tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ, người Mỹ mất tích tên là Gerald Emil Kosh, 27 tuổi, quê quán tại Lafayetteville, tiểu bang Pennsylvasnia, cựu Ðại Úy lục quân đã từng tham chiến tại Việt Nam và được tưởng thưởng một huy chương với ngôi sao bạc và chiến thương bội tinh. Phát ngôn viên Tòa Ðại Sứ còn cho biết thêm: "Ông Kosh hiện là một nhân viên dân chính đã có mặt trên một chiến hạm VNCH tham chiến tại Hoàng Sa. Sau một trận hải chiến dữ dội, HQVN đã đưa ông này lên đảo Hoàng Sa để được an toàn hơn. Nhưng ngày hôm sau, phi cơ Mig và chiến hạm Trung Cộng oanh kích đảo và số phận của ông Kosh không được biết từ đó". Riêng bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ vẫn không tiết lộ gì nhiều về nhiệm vụ của ông Kosh, chỉ nói rằng ông là nhân viên dân sự làm việc cho phòng tùy viên quân sự của Tòa Ðại Sứ tại Sài Gòn. Nguồi tin này không được chính xác. Ông Kosh không có mặt trên chiến hạm VNCH vì ông đã yêu cầu HQ-5 đưa lên đảo Hoàng Sa vào tối 18/1, một ngày trước khi xảy ra trận hải chiến.&lt;br /&gt;Cuối cùng, sau 10 ngày bị bắt giữ, ông Kosh được Trung Cộng thả vào ngày 31 tháng 1 tại cây cầu Lo Wu, ranh giới giữa Hương Cảng và tỉnh Quảng Ðông.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;*** Bản tin bổ túc***&lt;br /&gt;Bản tin Á Châu Tự Do ngày 09/07/2007 cho biết là hải quân Trung Cộng đã bắn chết ngư dân Việt-Nam đang đánh lưới gần đảo Trường-Sa.&lt;br /&gt;Tàu hải quân cộng sản Việt gian, loại BPS-500 do Nga chế tạo mà bọn Việt gian vưà mới mua, đã chạy tới nhưng đã đành phải dừng lại từ xa vì hoả lực của các chiến hạm Trung Quốc mạnh hơn!!!.&lt;br /&gt;26_LoaiBPS-500CSVN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đúng là thái độ của bọn “khôn nhà, dại chợ!!!” “buôn dân bán nước!”.&lt;br /&gt;http://www.uofaweb.ualberta.ca/chinainstitute/nav03.cfm?nav03=62952&amp;nav02=58211&amp;nav01=57272&lt;br /&gt;http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/07/16/Chinese_vessels_attacked_Vietnamese_fishing_boats/&lt;br /&gt;http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/07/15/Chinese_soldiers_open_fire_on_Vietnamese_Fisherman/&lt;br /&gt;http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/07/21/Chinese_Navy_fires_at_Vietnamese_fishing_ship/&lt;br /&gt;http://www.voanews.com/vietnamese/2007-07-19-voa15.cfm&lt;br /&gt;http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/07/21/Chinese_Navy_fires_at_Vietnamese_fishing_ship/&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;*****&lt;br /&gt;27_GuiSungChoTao&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Gửi súng cho tao!”&lt;br /&gt;Nguyễn Cung Thương (Sài Gòn)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tao cụt một chân một tay,&lt;br /&gt;Nhưng còn một tay&lt;br /&gt;Viết thư giùm cho thằng mù hai mắt&lt;br /&gt;Nghe nói ở xứ người chúng mày “cày” như trâu&lt;br /&gt;Nhưng không quên đồng đội&lt;br /&gt;Chia đôla cho chúng tao, như chia máu ngày nào&lt;br /&gt;Tao cũng sớt cho mấy thằng bạn: phế binh Việt Cộng!&lt;br /&gt;Chúng cũng què đui sứt mẻ như nhau&lt;br /&gt;Bởi đảng của chúng bây giờ là lũ đầu trâu….&lt;br /&gt;*&lt;br /&gt;Có điều tao không thể hiểu&lt;br /&gt;Bao nhiêu năm qua                                             &lt;br /&gt;Chúng mày cứ mãi dặn dò&lt;br /&gt;Thế giới văn minh, đừng làm gì bạo động&lt;br /&gt;Liệu chúng mày có thể hòa hợp được không&lt;br /&gt;Với lũ kên kên hổ báo?&lt;br /&gt;Những con thú cực kỳ giàu có&lt;br /&gt;Mang “thẻ đỏ, tim đen”&lt;br /&gt;Nợ Nga, sợ Tầu, lạy Mỹ&lt;br /&gt;Với quan thầy cung cúc tận tụy&lt;br /&gt;Quay về đàn áp dân đen&lt;br /&gt;Chúng đóng đinh Jesus lần nữa&lt;br /&gt;Bịt Miệng Cha, trói Phật, nhốt Sư, quản lý Chùa.&lt;br /&gt;*&lt;br /&gt;Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ&lt;br /&gt;Nên biết rõ từng tên đại ác&lt;br /&gt;Trên bàn tiệc máu xương dân tộc&lt;br /&gt;Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu&lt;br /&gt;Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh!&lt;br /&gt;Chúng ta sẽ tỉa từng thằng&lt;br /&gt;Đất nuớc cần nhiều “quốc táng”&lt;br /&gt;Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào&lt;br /&gt;Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này&lt;br /&gt;Còn có chút sáng láng hơn&lt;br /&gt;*&lt;br /&gt;Hãy gửi tiền cho những nhà tu&lt;br /&gt;Để họ mở cửa nhà tù&lt;br /&gt;Còn chúng tao là chiến sĩ&lt;br /&gt;Hảy gửi về cho chúng tao vũ khí&lt;br /&gt;Thằng cụt tay sẽ chỉ cho thằng mù mắt bấm cò&lt;br /&gt;Thằng còn chân sẽ cõng thằng què quặt&lt;br /&gt;Trận chiến sau cùng này sẽ không có Dương Văn Minh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;·         Bài thơ trả lời của người hải ngoại:&lt;br /&gt;Thưa anh Nguyễn Cung Thương,&lt;br /&gt;Đạn thù trên mặt trận ngày nào&lt;br /&gt;Nay anh chỉ còn một tay&lt;br /&gt;Tôi ở bên này&lt;br /&gt;Đọc thơ anh mà rượu ngọt hóa cay&lt;br /&gt;Mà gục đầu tủi hận&lt;br /&gt;Tôi còn hai tay&lt;br /&gt;Và còn cả hai chân&lt;br /&gt;Mà cứ ngại ngần không cầm cây súng              &lt;br /&gt;Nợ kiếm cung&lt;br /&gt;Tôi gạt bỏ bên trời sau ngày Sài Gòn vỡ vụn&lt;br /&gt;Lận đận lao đao&lt;br /&gt;Anh viết câu thơ như sông núi thét gào:&lt;br /&gt;“Gửi súng cho tao!”&lt;br /&gt;Để anh chiến đấu bằng vết đau còn lại&lt;br /&gt;Mà không ngần ngừ, không e ngại&lt;br /&gt;Dũng sĩ hề!&lt;br /&gt;Ôi lòng ta tê tái&lt;br /&gt;Mái tóc sương pha&lt;br /&gt;“Ta là ai&lt;br /&gt;Mà cúi mặt trước tương lai&lt;br /&gt;Khi Tổ Quốc đang thét gào lời sông núi?”&lt;br /&gt;Viết dòng thơ, tôi sờ đầu nhục tủi&lt;br /&gt;Vì không gửi được cây súng nào&lt;br /&gt;Khi bạn mình giục:&lt;br /&gt;“Gủi súng cho tao!”&lt;br /&gt;Lê Khắc Anh Hào (Canada)&lt;br /&gt;http://www.take2tango.com/News.aspx?NewsID=5835&lt;br /&gt;BVN.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt; Sửa đổi: hundredyue -- 10/23/2007 10:56:13 PM &gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(trả lời: hundredyue)&lt;br /&gt; Bài số: 41&lt;br /&gt;RE: Tiểu Não Bách Việt - 10/23/2007 12:08:13 PM     &lt;br /&gt;Không có Bài Mới&lt;br /&gt;hundredyue&lt;br /&gt;Nhà Lá&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài: 44&lt;br /&gt; Những vấn nạn và những hệ lụy cho dân tộc Việt-Nam sau ngày mất Hoàng-Sa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tầm quang trọng chiến lược của các quần đảo Hoàng-Sa, Trường-Sa là những thực tiển trước mắt vì các quần đảo Hoàng, Trường-Sa như là lá chắn chiến lược trong sân trước biển Đông để bảo vệ đất nước, dân tộc  Việt-Nam.&lt;br /&gt;Đó là chưa nói tới những nguồn lợi thiên nhiên mà biển Đông mang đến cho dân tộc Việt-Nam như ngư sản, dầu thô…..&lt;br /&gt;Mất hai quần đảo nầy có nghĩa là mất Việt-Nam vào tay Tàu Cộng.&lt;br /&gt;Để thấy rõ những hậu quả mà “bọn phản quốc” Bắc bộ phủ Hà-Nội đã làm sau khi dâng đất dâng biển cho “Hán tộc Bắc Kinh”, đính kèm dưới đây là những hình không ảnh có thực, cho biết những diễn tiến trên các đào mà TC đã hưởng được từ sự “thậm thụt” hiến dâng của “bọn phản quốc Hà-Nội”.&lt;br /&gt;Quần đảo Hoàng-Sa được tạo nên bời hai nhóm đảo: Trăng-Khuyết_Cresent Group và Nguyệt-Thiềm_Amphitrite Group.&lt;br /&gt;Người viết xin được trình bày về nhóm Trăng-Khuyết_Cresent Group trước.&lt;br /&gt;01_QuanDaoHoang-Sa_TrangKhuyet-NguyetThiem (Cresent Group-Amphitrite Group)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;01&lt;br /&gt;Nhóm Trăng-Khuyết-Cresent Group.&lt;br /&gt;Bao gồm các đảo dưới đây:&lt;br /&gt;Đảo Tri Tôn_Triton Island là đảo gần Đà-Nẳng nhất có cảng hải quân được xây hướng về phía Đà-Nẳng để tàu hải quân dễ cập bến và có thể tránh sóng, gió từ ngoài khơi thổi vào.&lt;br /&gt;02_DaoTriTon_Triton Island&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;02&lt;br /&gt;Sau khi chiếm được dảo Tri Tôn TC đã cho xây dựng lại hai trạm tiền tiêu hướng về Đà-Nẳng cùng những hàng cây trông rất kỳ cục nhưng thật ra không kỳ cục đối với vệ tinh viển thám của TC vì đây là những ký hiệu chỉ dành cho vệ tinh TC mà thôi.&lt;br /&gt;Những loại chấm theo hàng lối như thế nầy không phải chỉ có tại đảo Tri Tôn cuả Việt-Nam mà có dọc theo hải phận của TC, từ biên giới Nga, Hoa xuống tận đảo Hải Nam, và đã có ngay cả trên lãnh thổ và lãnh hải của Miến-Điện.&lt;br /&gt;Những ký hiệu như thế có ý nghiã gì ? Có phải nó dùng để xác định với vệ tinh định vị cuả TC là lãnh thổ và lãnh hải cuả TC bao gồm từ biển Đông Việt-Nam cho tới vùng biển Ấn Độ Dương bao gồm cả lãnh thổ Miến-Điện_Myanmar ?!&lt;br /&gt;03ToanDao&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;03&lt;br /&gt;04_DaoTriTon_ChuBat&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;04&lt;br /&gt;Qua hình trên, nếu ta nối những điểm màu vàng có số đỏ theo thứ tự từ 1-2, 3-4, 5-6, 7-8, có phải chúng ta có chử “bất” trong hán ngữ cuả Trung Cộng. Chử “bất” có nghiã là: không, nghiêm cấm.&lt;br /&gt;Điều nầy có nghiã là gì ?&lt;br /&gt;Có phải Trung Cộng đã xác định đảo nầy thuộc lảnh hải của chúng qua vệ tinh?&lt;br /&gt;Nếu đúng theo sự suy luận thì bộ chính trị “Việt gian bán nước” Hà-Nội trả lời như thế nào đối với quốc dân Việt-Nam ?&lt;br /&gt;05_PhiDao&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;05&lt;br /&gt;Trong hình trên khoảng cách từ điềm 1 cho tới điểm 2 có phải là phi đạo cho riêng phi cơ không người lái (Unmanned Aerial Vehicles-UAV) mà hải quân Trung Cộng thường sử dụng ?&lt;br /&gt;Nếu đúng thì những bệnh dịch cúm gà, dịch bò-heo long móng trên lãnh thổ Việt-Nam có thể xuất phát từ đảo nầy vì đảo nầy gần với Đà-Nẳng nhất.&lt;br /&gt;06_HanTu_Bat&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;06&lt;br /&gt;Bức ảnh nầy để trống, không đánh dấu, cho ta một hình ảnh chử “Bất” một cách rõ ràng hơn.&lt;br /&gt;Các đọc giả Việt-Nam suy nghỉ như thế nào về dử kiện thực nầy ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;07_DaoBachQuy_Passu Keah Island&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhìn tử trên không đảo Bạch Quỷ cho ta thấy là một vòng san hô kín bên trong chứa nước và tàu nhỏ chỉ có thể vào hay ra khi thủy triều lên. Nghiã là đảo nầy khó có thể có người sinh sống, thế nhưng sự thật thì sao?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;07&lt;br /&gt;08_LienLac&lt;br /&gt;Hình dưới đây trình bày sự thật là Trung Cộng đã tiến hành việc kiến trúc những căn cứ quân sự chứng minh chủ quyền của Trung Cộng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;08&lt;br /&gt;09_ChienHam&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bên dưới đây là 4 chiến hạm, hay vận chuyển hạm đang đậu ngoài khơi, phiá Tây Bắc đảo Bạch-Quỷ để mang những trang bị, thiết kế trong việc xây dựng công sự, căn cứ đến cho tàu nhỏ chuyển vào bên trong đảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;09&lt;br /&gt;10_CanCu&lt;br /&gt;Dưới đây là một trong những căn cứ đã thành hình, có cả sân bay, dấu ấn của Trung Cộng là những mái nhà hình “bát giác”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;10&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;11_LoBomb&lt;br /&gt;Dưới đây là không ảnh bãi cát trắng ở góc trên bên trái của đảo Bạch-Quỷ, nếu nhìn kỷ qúi đọc giả sẽ thấy một lổ rộng và sâu, dường như là một lổ bomb đã cho nổ thử.&lt;br /&gt;Một lần nửa hình ảnh nầy lại nhắc nhở cho ta những trận động đất tại Sài-Gòn, Thái-Bình, Nghệ-An trong những năm trước, 2004, 2005!&lt;br /&gt;Liệu đây có phải là một trong những nguyên nhân ???&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;11&lt;br /&gt;12-ToanDaoBachQuy&lt;br /&gt;Toàn cảnh đảo Bạch-Qủy bên dưới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;12&lt;br /&gt;13_BaiDaNgam_Discovery Reef&lt;br /&gt;Bải Đá Ngầm dưới đây có hai lối vào. Liệu hải quân Trung Cộng có hiện diện trong đảo hay không ?&lt;br /&gt;Câu trả lời là: Có.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;13&lt;br /&gt;14_HamDoi&lt;br /&gt;Trung Cộng đả có cả hạm đội trong đào nầy.&lt;br /&gt;Hình 01 bên dưới là một hạm đội, gồm 2 chiếc lớn, 5 chiếc nhỏ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;14&lt;br /&gt;15_H02&lt;br /&gt;Hình 02 bên dưới gồm 1chiếc lớn, 2 chiếc nhỏ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;15&lt;br /&gt;16_H03&lt;br /&gt;Hình 03 chỉ đơn độc 1 chiếc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;16&lt;br /&gt;17H04&lt;br /&gt;Hình 04 bên dưới là cả một hạm đội gồm: 5 chiếc lớn, có ít nhất là 4 chiếc nhỏ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;17&lt;br /&gt;18_Discovery&lt;br /&gt;Những tàu chiến đều chận ngay cửa ra vào của đảo, riêng 5 chiến hạm trong hình 04 dường như là lực lượng trừ bị !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;18&lt;br /&gt;19_DaoQuang-Anh, VinhLac_Money Island&lt;br /&gt;Bên dưới là đảo Quang-Ành_Vỉnh-Lạc đã được Trung Cộng tổ chức phòng thủ, nếu chúng ta nghiên cứu kỷ sẽ thấy những hệ thống của Trung Cộng đều hướng về Việt-Nam, đúng ra là Đà-Nẳng, Nha-Trang, vịnh Cam-Ranh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;19&lt;br /&gt;20_PhongThu&lt;br /&gt;Hình bên dưới đây có thể là hệ thống phi đạn ngầm dọc theo bờ biển hướng về Việt-Nam, vì thế tất cả những thành phố Việt-Nam đều nằm trong tầm phi đạn của Trung Cộng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;20&lt;br /&gt;21_DienQuang-laser&lt;br /&gt;Còn một vấn nạn nửa là nếu trong hình bên dưới thật sự là hệ thống súng điện quang-laser do Trung Cộng trang bị, có nghiã là tất cả những phi đạn phòng thủ của Việt gian Hà-Nội đều trở nên vô dụng!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;21&lt;br /&gt;22_KyHieu&lt;br /&gt;Hình bên dưới lại cho ta một câu hỏi mà không có trả lời, đó là những ký hiệu gì dành cho vệ tinh TrungCộng ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;22&lt;br /&gt;23_PhiDao&lt;br /&gt;Lại thêm một phi đạo tầm ngắn nửa, có lẽ dành cho những phi cơ không người lái Unmanned Aerial Vehicles-UAV?!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;23&lt;br /&gt;24_QuangAnh-VinhLac&lt;br /&gt;Dưới đây là toàn cảnh đảo Quang-Ảnh_Vỉnh-Lạc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;24&lt;br /&gt;25_DaoCamTuyen-HuuNhat_Robert Island&lt;br /&gt;Ngày 15/01/1974 Trung Cộng đã chiếm hửu đảo Cam-Tuyển_Hửu-Nhật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;25&lt;br /&gt;26_ChienHamTuanTieu&lt;br /&gt;Tàu chiến Trung Cộng đang tuần tiểu quanh đảo Cam-Tuyền_Hửu-Nhật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;26&lt;br /&gt;27_CongSuNgam01&lt;br /&gt;Hiện nay những công sự ngầm đã được quân Trung Cộng xây trên đảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;27&lt;br /&gt;28_CongSuNgam02&lt;br /&gt;Lại thêm công sự ngầm đã được xây trên đảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;28&lt;br /&gt;29_DiaDaoPhongThu&lt;br /&gt;Bên dưới là địa đạo hay công sự phòng thủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;29&lt;br /&gt;30_OngDau&lt;br /&gt;Có thể có hệ thống ống dầu ngầm bên dưới biển, phía Tây đảo để tránh sóng gió.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;30&lt;br /&gt;31_BaiDaNgam_Antelope Reef&lt;br /&gt;Bên dưới là Bãi Đá Ngầm_Antelope Reef, liệu hải quân Trung Cộng có hiện diện hay không? Câu trả lời là có&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;31&lt;br /&gt;32_TauTuan01&lt;br /&gt;Tàu chiến Trung Cộng đang tuần tiểu quanh bải đá ngầm Antelope Reef bên dưới, phía Đông Bắc đảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;32&lt;br /&gt;33_TauTuan02&lt;br /&gt;Tàu chiến Trung Cộng luôn đi tuần tiểu đôi, thêm một tàu chiến Trung Cộng bên dưới, phía Đông Nam đảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;33&lt;br /&gt;34_CanCu&lt;br /&gt;Căn cứ quân sự đã được xây ngay phía Đông Nam đảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;34&lt;br /&gt;35_TauNgam&lt;br /&gt;Tàu ngầm Trung Cộng có hoạt động trong vùng đảo Hoàng-Sa?&lt;br /&gt;Câu trả lời là:  Có.&lt;br /&gt;Không ảnh bên dưới cho thấy rất rõ ràng lượn sóng rẽ.&lt;br /&gt;Phiá Đông Bắc đảo xuất hiện một lượn sóng rẽ rất lớn, mạnh và dài, thế nhưng không thấy tàu chiến hiện hửu.&lt;br /&gt;Câu giải thích chính xác nhất chỉ có tàu ngầm Trung Cộng là có khả năng tạo sóng như thế. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;35&lt;br /&gt;36_HoangSa&lt;br /&gt;Bên dưới là đảo chính Hoàng-Sa.&lt;br /&gt;Quan sát đảo kỷ càng sẽ cho chúng ta một cảm giác bất an.&lt;br /&gt;DaoHoang-Sa_Pattle Island&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;36&lt;br /&gt;37_PhongThuDao&lt;br /&gt;Vòng đai phòng thủ tương tự như những đảo trên, hướng về Việt-Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;37&lt;br /&gt;38_PhiDan01&lt;br /&gt;Những dàn phi đạn, hải pháo được ngụy trang và tất cả đều hướng về Việt-Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;38&lt;br /&gt;39_PhiDan02&lt;br /&gt;Những dàn phi đạn ngụy trang bên dưới, phiá Tây đảo Hoàng-Sa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;39&lt;br /&gt;40_Radar&lt;br /&gt;Phiá Đông đảo là hệ thống radar cùng những công sự phòng thủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;40&lt;br /&gt;41_XacTau&lt;br /&gt;Tận cùng phía Đông đảo là xác tàu chìm, đây là chứng tích cuộc chiến Hoàng-Sa ngày 19/01/1974 còn tồn tại?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;41&lt;br /&gt;42_DaoQuangHoa_Duncan Island&lt;br /&gt;Đảo Quang-Hoà là nơi đụng độ giửa toán quân Hải Kích-Biệt Hải của Hải Quân Việt-Nam Cộng-Hòa, trực thuộc HQ-5, HQ-4 với quân Trung Cộng ngay phía Tây đảo Quang-Hoà khiến cho Hải Kích Trung Úy Nguyễn Văn Đơn và Hải Kích Long đền nợ nước và hai Hải Kích khác bị thương vào lúc 7 giờ 42 phút sáng ngày 19/01/1974.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;42&lt;br /&gt;43_TienTieu&lt;br /&gt;Quan sát không ảnh bên dưới cho thấy Trung Cộng thành lập hai trạm tiền tiêu ngay cửa đảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;43&lt;br /&gt;44_BatQuai&lt;br /&gt;Phía Tây đảo có thể là trạm khí tượng hay radar, phía Bắc đảo có một căn cứ xây thành hình bát quái, dấu ấn hay ký hiệu của Trung Cộng,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;44&lt;br /&gt;45_KhuDacBiet&lt;br /&gt;Hình bên dưới cho chúng ta thấy một khu vực có hình dạng rất đặc biệt, loại hình dáng đặc biệt nầy không những tìm thấy ở đảo Quang-Hoà, Việt-Nam mà nó còn có thể tìm thấy ở trên lãnh thổ Miến-Điện_Myanmar, phiá Tây Bắc Việt-Nam ẩn sau những dãy núi đồi trùng điệp trong vùng Vân-Nam. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;45&lt;br /&gt;46_TraiTim&lt;br /&gt;Ảnh bên dưới cũng cho chúng ta thấy những hình dạng quái lạ, như hình trái tim hướng về miền Bắc, khu căn cứ kiến trúc theo hình chử U, đây có thể là những căn cứ nghiên cứu rất đặc biệt của Trung Cộng, một loại vũ khí mới tuyệt mật!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;46&lt;br /&gt;47_KyHieuVeTinh&lt;br /&gt;Những dấu hiệu bên dưới có thể là một loại ám ký đặc biệt chỉ dành riêng cho vệ tinh Trung Cộng. Những dấu hiệu nầy có thể tìm thấy dọc theo lãnh hải Trung Cộng ngoài ra ngay trên lãnh thổ Miến-Điện cũng có những loại dấu hiệu nầy, điều nầy nói cho chúng ta một sự thật là ảnh hưởng của Trung Cộng lên Miến-Điện rất mạnh mẽ, nếu không nói là bao trùm lên mọi lãnh vực chính trị, quân sự cuả Miến-Điện.&lt;br /&gt;Có nghiã là Đông Dương phải thuộc về sự cai quản cuả Trung Cộng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;47&lt;br /&gt;48_DaoDuy-Mong_Drummond Island&lt;br /&gt;Đảo Duy Mộng bên dưới là nơi trú quân tiền phương của Trung Cộng khi tiến chiếm quần đảo Hoàng-Sa. Nếu quan sát kỷ không ảnh bên dưới, góc Tây Nam của đảo đây là tuyến xuất phát bộ binh của Trung Cộng trong cuộc hải chiến Hoàng-Sa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;48&lt;br /&gt;Ảnh bên dưới là vòng cung Tây Bắc cuả quần đảo Hoàng-Sa. Người viết tạm phân chia ra làm những khu A-B-C-D và H&lt;br /&gt;49_DaoHoang-Sa_A-B-C-D-H&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;49&lt;br /&gt;50_DaoHoang-Sa_A-B-C&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;50&lt;br /&gt;Toàn thề khu bắc Hoàng-Sa_A-B-C có cả tàu chiến Trung Cộng tuần tiểu, canh phòng ngày đêm để yểm trợ cho căn cứ quân sự cuả TC.&lt;br /&gt;51_Đảo Hoàng-Sa_A&lt;br /&gt;Khu vực đảo A có những dạng như những đường ống dẩn dầu hay tiếp liệu, nghiã là đã có dấu chân người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đảo Hoàng-Sa_A có căn cứ quân sự và có thể có cả ống dẩn dầu.&lt;br /&gt;51&lt;br /&gt;52_HoangSa_CanCuB&lt;br /&gt;Đảo Hoàng-Sa_Căn cứ B.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đảo Hoàng-Sa_B, căn cứ quân sự đã được xây trên một đảo nhỏ..&lt;br /&gt;52&lt;br /&gt;53_HoangSa_C&lt;br /&gt;Đảo Hoàng-Sa_C&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tàu chiến Trung Cộng đang tuần tiểu canh giử đảo Hoàng-Sa_C. Nếu không có những hoạt động quan trọng trên các đảo, Trung Cộng không phải chi tiêu những phí tổn như thế để bảo vệ quần đảo Hoàng-Sa.&lt;br /&gt;53&lt;br /&gt;54_OcHoa&lt;br /&gt;Đảo Óc-Hoà_căn cứ D, một căn cứ quân sự của Trung Cộng.&lt;br /&gt;Thêm một căn cứ quân sự của Trung Cộng đã được xây trên một đảo nhỏ khác. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;54&lt;br /&gt;55_KhuVuc_H&lt;br /&gt;Khu vực lổ bomb nguyên tử.&lt;br /&gt;Bức ảnh bên dưới đã tạo nên những thắc mắc cho những quan sát viên Tây phương, theo họ, đây là một loại lổ bomb nguyên tử đã được cho nổ thử trên đảo. Khi nào? Câu trả lời có thể tỉm được từ những trận động đất đã làm rung rinh thành phố Sài-Gòn, Thanh-Hóa, Nghệ-An trong những năm vừa qua.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chỉ có bomb nguyên tử mới có thể tạo nên một lỗ sâu và lớn như thế trên một đảo hoang.&lt;br /&gt;55&lt;br /&gt;56_DaoChimYen_Vuladdore Reef&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đảo Chim Yến cho dù vẩn còn chìm dưới mặt nước biển nhưng vẩn thuộc về lảnh hải biển Đông Việt-Nam.&lt;br /&gt;56&lt;br /&gt;57_DaoConDa_Bombay Reef&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đảo Cồn Đá Bombay Reef không quan trọng vì vẩn còn chìm dưới mặt nước biển, tuy nhiên nó vẩn nằm trong lảnh hải Việt-Nam, thuộc về biển Đông Việt-Nam.&lt;br /&gt;57&lt;br /&gt;Trong những năm gần đây trên toàn lãnh thổ Việt-Nam đã xuất hiện những vấn nạn khó giải thích được như dịch cúm gà nở rộ lên cùng một lúc từ Bắc vào Nam, không phân biệt địa phương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bệnh long mồm, lở móng của bò, heo, đặc biệt là các tỉnh Quảng-Nam, Đà-Nẳng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi dịch sốt xuất huyết từ Bắc vào Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nử sinh ngất xĩu tại các vùng duyên hải Bà-Riạ, Vủng-Tàu, Quảng-Ngãi, Quảng-Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những cơn mưa tầm tã như trút nước tạo nên những cơn lũ quét, nhất là vùng miền Trung và miền thượng du Bắc Việt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những cơn bảo, lốt xoáy bất thường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những cơn mưa đá bất thường làm thiệt hại muà màn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả đều do đâu?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do thiên tai?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chưa hẳn vậy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có những câu hỏi sau đây đã được đặt ra để giải thích các vấn đề trên là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trung Cộng có thể tạo được mưa nhân tạo hay không?&lt;br /&gt;Câu trả lời là: có.&lt;br /&gt;Hằng năm Trung Cộng đã làm mưa nhân tạo đổ xuống sông Dương-Tử hằng triệu tấn nước mưa nhân tạo để chửa nạn thiếu nước khô kiệt ruộng vườn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;58&lt;br /&gt;20/11/2006 Mưa đá Hà-Nội&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://www.thoitietnguyhiem.net/&lt;br /&gt;22/08/2005 Mưa đá tại Lào-Cai&lt;br /&gt;http://www.thoitietnguyhiem.net/&lt;br /&gt;58&lt;br /&gt;59&lt;br /&gt;23/08/2005 Lũ quét Sơn-La, Lai-Châu, Lào-Cai, Hà-Giang&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://www.thoitietnguyhiem.net/&lt;br /&gt;59&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Nếu cần tài liệu người viết sẽ cung cấp thêm)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trung Cộng có sử dụng phi cơ không người lái (UAV) hay không?&lt;br /&gt;Câu trả lời là: có.&lt;br /&gt;Các loại UAV như:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tianjiang.&lt;br /&gt;ASN206.&lt;br /&gt;BA9 (ASN-9).&lt;br /&gt;Seagull_Haijou.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;đều có khả năng hoạt động trên vùng trời Việt-Nam hằng ngày, hằng giờ mà bộ chính trị “Việt gian bán nuớc” Hà-Nội không đủ khả năng đương cự.&lt;br /&gt;(Nếu cần tài liệu người viết sẽ cung cấp.)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trung Cộng có dùng vũ khí hoá học hay không ?&lt;br /&gt;Câu trả lời là: có.&lt;br /&gt;Trong trận chiến Việt-Trung 1979-1991.&lt;br /&gt;Trong những lần bộc phát dịch cúm gà tại Hong-Kong, vùng Quảng- Đông, Quảng-Tây, Vân-Nam, Tây-Tạng.&lt;br /&gt;(Tài liệu có thể tìm ngay trên đất nước Việt-Nam.)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trung Cộng có dùng súng điện quang-laser hay không? (Có thể là một loại từ điện_EMP cở nhỏ)&lt;br /&gt;Câu trả lời là: có.&lt;br /&gt;Bao nhiêu chiếc phi cơ đã rớt trên vùng trời Việt-Nam mà không tìm ra nguyên nhân hay không có lời giải thích?&lt;br /&gt;Đặc biệt là phi cơ bay trên những vùng lãnh thổ, lãnh hải Nha-Trang, Quảng-Nam, Đà-Nẳng, Vịnh Bắc Bộ.&lt;br /&gt;Dưới đây là một vài nghi án:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;12/12/1995&lt;br /&gt;Ba chiếc phi cơ So-Viết SU-27 đâm vào núi gần Cam-Ranh.&lt;br /&gt;http://aeroweb.lucia.it/rap/News/RusskieVityazi.html&lt;br /&gt;http://www.aviapedia.com/aerobatic-teams/russian-knights/russian-knights-video-smotr&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;07/04/2001&lt;br /&gt;Một chiếc Mi-17 chở các nhân viên quân sự Việt-Nam và Hoa-Kỳ đi tìm lính Mỹ bị mất tích đã đâm vào vùng núi huyện Bố-Trạch tỉnh Quảng-Bình làm thiệt mạng 9 người Việt, 7 người Mỷ. Nguyên nhân gây ra tai nạn? Chưa biết rõ.&lt;br /&gt;http://findarticles.com/p/articles/mi_qn4196/is_20010408/ai_n10687832&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;23/01/2003&lt;br /&gt;Chiếc trực thăng Mi-8 chở toàn bộ tham mưu quân khu 4 đi từ Vình ra Hòn Mê đã đâm vào núi nổ và bốc cháy.&lt;br /&gt;http://www.vnexpress.net/Vietnam/Xa%2Dhoi/2005/01/3B9DB064/&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;24/08/2004&lt;br /&gt;Một chiếc Mig-21 số 5321 cất cánh từ Kiến-An, Hải-Phòng và rớt tại Kim-Thành, Hải-Dương. Phi công chết.&lt;br /&gt;http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A3i_D%C6%B0%C6%A1ng&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;60 M28 04/11/2005&lt;br /&gt;Một chiếc M-28 đột ngột bốc cháy rơi xuống Gia-Lâm, Hà-Nội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;60&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;61_Xác máy bay rơi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://www.vnexpress.net/Vietnam/Xa%2Dhoi/2005/11/3B9E3C58/&lt;br /&gt;61&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;29/04/2005&lt;br /&gt;Chiếc máy bay loại huấn luyện L-39 bay trên không phận Nha-Trang đột ngột chết máy. Rớt.&lt;br /&gt;http://www.ngoisao.net/News/Thoi%2Dcuoc/2005/04/3B9B147D/&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;62&lt;br /&gt;SU-22 09/08/2006&lt;br /&gt;Một chiếc SU-22 đang bay diễn tập đã đâm vào núi Hòn Khô, Ninh-Thuận (Nha-Trang?)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=47183&amp;z=2&lt;br /&gt;62&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;06/06/2007&lt;br /&gt;Một chiếc L-39, loại huấn luyện bị rơi xuống Ninh-Thuận. Phi công chết.&lt;br /&gt;http://vi.wikipedia.org/wiki/Ninh_Thu%E1%BA%ADn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;(Tài liệu có thể tìm ngay trên đất nước Việt-Nam.)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trung Cộng có sử dụng các lực lượng hải quân, chiến hạm trong lãnh hải Việt-Nam hay không?&lt;br /&gt;Câu trả lời là: có.&lt;br /&gt;Hải quân Trung Cộng đã bắn giết ngư dân Việt-Nam ngay trên lãnh hải Việt-Nam.&lt;br /&gt;Những hình ảnh các tàu chiến Trung Cộng tại quần đảo Hoàng-Sa có đủ để trả lời câu hỏi trên hay không?&lt;br /&gt;(Tài liệu có thể tìm ngay trên hai quần đảo Hoàng-Sa, Trường-Sa.)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu chuyện tàu USS Peleliu_LHA 5 và những nghi vấn khó hiểu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 15/07/2007 là ngày chiến hạm USS Peleliu_LHA 5 cập bến cảng Tiên-Sa, Đà-Nẳng để cung cấp những dịch vụ y-tế cho dân nghèo miền Trung trong chiến dịch hợp tác Hửu Nghị Thái Bình Dương.&lt;br /&gt;Lực lượng chuyên viên gồm các phái đoàn chuyên viên quân sự và dân sự, các chuyên viên thiện nguyện thuộc tổ chức phi chính phủ chỉ có mục đích nhân đạo mà thôi.&lt;br /&gt;Lịch trình tàu ghé vào Đà-Nẳng từ ngày 15/07/2007 cho đến ngày 31/07/2007 mới chấm dứt, thế nhưng lịch trình nầy bị hủy nửa chừng vì lý do là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-Hà-Nội không muốn nhân viên y-tế trên tàu dùng trực thăng vận chuyển bệnh nhân từ trong đất liền ra tàu để chửa bệnh trên lãnh thổ Việt-Nam!?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một lý do thật quái đản!!!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo nguồn tin bán chính thức là Hà-Nội đã bị Trung Cộng làm áp lực không cho tàu USS Peleliu_LHA 5 cuả Hoa Kỳ hoạt động trong khu vực dưới bất cứ hình thức nào, với lý do là Trung Cộng không muốn bộ chính trị Hà-Nội quá thân với Hoa-Kỳ!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên tất cả những lý do trên do Hà-Nội viện dẩn ra không chính đáng, mà nguyên nhân chính là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-Tàu USS Peleliu nguyên là một chiến hạm quân sự được cải biến thành tàu y-tế dân sự được sử dụng trong mục đích y khoa mà thôi, tuy nhiên cho dù tàu nầy đã cải biến cho mục đích y-tế dân sự nhưng thực chất vẩn còn những trang bị của một chiến hạm dù trên tàu không có vũ khí để tấn công hay tự vệ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-Để vận chuyển bệnh nhân từ trong đất liền ra tàu chửa bệnh, nhân viên tàu phải dùng trực thăng chở bệnh nhân cho những chuyến đi và về.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các nghi vấn được đặt ra là tại sao tàu USS Peleliu không được phép xử dụng trực thăng trên không phận Việt-Nam, đặc biệt là trong khu vực miền Trung gần hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa??&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu trả lời có thể từ những vấn đề mà Trung Cộng muốn che dấu đi không cho Hoa Kỳ và thế giới thấy, vì dưới các con mắt quan sát chuyên nghiệp của các chuyên gia khoa học và quân sự cuả Hoa-Kỳ mọi sự thật sẽ bị phơi bày ra ánh sáng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những sự thật nầy là những sự thật gì mà Trung Cộng không muốn cho các chuyên viên Hoa-Kỳ biết?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dưới đây là các giả thuyết có thể có độ chính xác rất cao:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-Trung Cộng đang tấn công Việt-Nam, hay đang thử nghiệm những loại vũ khí sinh hóa ngay trên lãnh thổ Việt-Nam, tiêu biểu là các bệnh cúm gà, bệnh lỡ mồm long móng của bò-heo, bệnh sốt xuất huyết….. đang xãy ra hằng ngày trên lãnh thổ Việt-Nam.&lt;br /&gt;-Trung Cộng sợ phi cơ trực thăng của Hoa-Kỳ bị bắn rơi vì những vũ khí do Trung Cộng đã trang bị sẳn và tự động bắn rơi bất cứ một phi cơ nào bay trên không phận hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa!&lt;br /&gt;-Vũ khí bí mật nầy có thể là súng điện quang_laser hay một loại súng bắn tử tính_EMP khiến cho tất cả những cơ phận điện tử trên phi cơ bị tê liệt và bốc cháy! Và đây chính là điều mà Trung Cộng muốn dấu kín, không muốn lộ liễu quá sớm trước các con mắt của các chyên gia quốc tế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên Trung Cộng không qua mặt được các chuyên gia quân sự Hoa-Kỳ vì con tàu Peleliu chỉ là một bài toán thử cho một đáp số đã có sẳn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyện con tàu Peleliu ở lại Việt-Nam đúng theo lịch trình hay phải rời bến sớm hơn đã không thành vấn đề vì đã có câu trả lời và vì người Hoa Kỳ đã biết trước câu trả lời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://tintuc.datviet.com/forum/showthread.php?t=152979&lt;br /&gt;http://www.navy.mil/search/display.asp?story_id=29850&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;63TauTinhThuong&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://www.navy.mil/list_all.asp?id=29850&lt;br /&gt;http://www.cpf.navy.mil/news_images/Peleliu/index.html&lt;br /&gt;http://www.cpf.navy.mil/news_images/Peleliu/photos.html&lt;br /&gt;63&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu thật sự Trung Cộng đang thử nghiệm loại vũ khí từ điện_EMP (trong thực tế những diển biến trong 10 năm qua trên lãnh thổ và lảnh hải Việt-Nam cho thấy là Trung Cộng đang sở hửu loại võ khí nầy qua những lần máy bay quân sự Việt-Nam bị rớt mà không có lời giải thích thỏa đáng!) tuy chưa tinh xảo lắm.&lt;br /&gt;Người viết có những nhân xét sau đây:&lt;br /&gt;Một khi Trung Cộng đã sở hửu loại vũ khí nầy có nghiã là Trung Cộng có thể bắn rơi bất cứ loại máy bay nào bay vào không phận Hoàng-Sa và Trường-Sa.&lt;br /&gt;Như thế những chiếc máy bay dân sự và quân sự của Việt-Nam có thể bị bắn rơi bất cứ lúc nào mà Trung Cộng muốn làm áp lực với Việt-Nam.&lt;br /&gt;Tuy nhiên trước khi có những lời khuyên dưới đây được gửi tới những người Việt-Nam về lại quê hương, người viết xin được xác định rõ ràng hai từ ngữ sau đây:&lt;br /&gt;-Người Việt hải ngoại là người tị-nạn cộng sản, không chấp nhận sống chung với bọn “Việt gian bán nước” dưới bất cứ hình thức nào.&lt;br /&gt;-Việt kiều là người đã dùng quyền tị-nạn cộng sản để được ra nước ngoài sống cho riêng mình nhưng vẫn thậm thà, thậm thụt bắt tay với “Việt gian bán nước” dưới mọi hình thức, ngay cả việc được bọn “Việt gian bán nước” gọi là “hoà hợp, hoà giải” dân tộc. Trước năm 1975 có một từ ngữ dành riêng cho loại người nầy là: “Ăn cơm quốc gia, thờ ma Việt gian bán nước”.   &lt;br /&gt;Bài viết nầy cũng có mục đích báo động cho những người Việt hải ngoại nhất là những chuyên gia: Khi đi công vụ hay tư vụ xin qúy vị hảy lưu tâm đừng để lộ những chuyến đi của mình nhất là khi có lộ trình những chuyến bay trong vùng biển Tây Thái Bình Dương, đặc biệt là khu vực của hai đảo Hoàng, Trường-Sa.&lt;br /&gt;Trung Cộng sẽ không từ nan bất cứ thủ đoạn nào để tiêu diệt những nhân tài nước Việt.&lt;br /&gt;Dưới đây là lời khuyên dành cho những Việt kiều là:&lt;br /&gt;“Trước khi về Việt-Nam nhớ mua “bảo hiểm nhân thọ” và giao phần bảo hiểm ấy cho người thân cất giử để ngưà trường hợp không mai xảy đến cho mình khi ngồi trên những chuyến bay trong khu vực Hoàng, Trường –Sa, trên không phận miền Trung: Nha-Trang, Đà-Nẳng, Quảng-Ngãi, Quảng-Nam.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về phiá bộ chính trị Hà-Nội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bộ chính trị “Việt gian bán nước” Hà-Nội hảy trả lời với quốc dân Việt-Nam trong nuớc là đã làm gì để “Bảo Quốc, An Dân”?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hảy trả lời trước quốc dân Việt-Nam cái tội “bán nước” cho Trung Cộng!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đừng để quốc dân phải lập nên “toà án dân tộc” trong một ngày không xa. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bách Việt Nhân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;24/09/2007.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TB: Hiện nay Trung Cộng đang tổ chức du lịch Hoàng-Sa, bạn đọc nào thấy hứng thú tham gia cứ tự tiện mua đi tham dự.&lt;br /&gt;http://www.take2tango.com/News.aspx?NewsID=6203&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt; Sửa đổi: hundredyue -- 10/23/2007 11:04:22 PM &gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(trả lời: hundredyue)&lt;br /&gt; Bài số: 42&lt;br /&gt;RE: Tiểu Não Bách Việt - 11/21/2007 10:51:11 PM     &lt;br /&gt;Không có Bài Mới&lt;br /&gt;hundredyue&lt;br /&gt;Nhà Lá&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài: 44&lt;br /&gt; Chuyện Trên Trời, Chuyện Dưới Biển Đông.&lt;br /&gt;HeLuyHoangSa02&lt;br /&gt;Hệ Lụy Hoàng-Sa_02&lt;br /&gt;Nhóm Nguyệt-Thiềm, An-Vỉnh_Amphitrite Group&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phú-Lâm (Yongxing Dao)&lt;br /&gt;Dưới đây là nhóm Nguyệt-Thiềm so với nhóm Trăng-Khuyết có nhiều hệ lụy hơn sau khi nghiên cứu kỷ những gì Trung Cộng đã trang bị cho nhóm đảo nầy.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhom Nguyet-Thiem, An-Vinh_Amphitrite Group&lt;br /&gt;01ToanDaoAnVinh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;01&lt;br /&gt;Đảo Phú-Lâm Trung Cộng gọi là Yongxing Dao tuy không lớn và là hòn đảo duy nhất có lợi thế chiến lược vì đã có sân bay với phi đạo lớn đủ cho chiến đấu cơ lên xuống, ngoài ra còn là một cửa ngỏ ngó ra biển Thái Bình Dương, có hải cảng cho tàu chiến cập bến, trên đảo Trung Cộng đã xây cả hệ thống viễn kính (cũng có thể là một trong những loại súng điện quang như: ground-based laser, EMP, EMG, RF, Ranets-E, Rosa-E, ASAT, AML).&lt;br /&gt;Ngày 27/06/2007 hải quân TC đã bắn một số ngư dân Việt-Nam bị thương tại đảo Phú-Lâm nầy, xin đọc thêm bản tin từ BBC qua những link dưới đây:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/10/071022_fishermenaccounts.shtml&lt;br /&gt;http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/10/071022_vietfishermeninchinesehands.shtml&lt;br /&gt;http://www.bbc.co.uk/vietnamese/inpictures/story/2007/10/071025_postfishinglife.shtml&lt;br /&gt;Dưới đây là quyết định mà TC xử phạt anh Là, tiền đã đóng nhưng người vẫn chưa được trả tự do! &lt;br /&gt;02BienLaiDongPhat&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;02&lt;br /&gt;http://www.bbc.co.uk/vietnamese/inpictures/story/2007/10/071025_postfishinglife.shtml&lt;br /&gt;03DaoPhuLam_Woody Island_Đảo Phú Lâm_Yongxing Dao&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;03&lt;br /&gt;Hình ảnh bên dưới đây cho ta thấy có thể là một viễn vọng kính mà cũng có thể là hệ-thống súng điện quang loại ground-based laser như “Starfire-Optical-Range-Laser 3” trong hình dưới đây.&lt;br /&gt;04Laser3&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;04&lt;br /&gt;Và nếu đúng thì hệ thống nầy chỉ có khác hơn hệ thống “Starfire-Optical-Range-Laser 3” trong hình trên là cái vòng tròn bao bọc cả khu vực để ngụy trang mà cũng để bảo vệ hệ-thống khỏi bị bảo và nước biển tàn phá.&lt;br /&gt;Kế bên khu vực là những hàng cây được trồng theo thứ tự nhưng thật ra là những ký hiệu đặc biệt dùng cho vệ tinh Trung Cộng dễ dàng nhận diện khu vực.&lt;br /&gt;Dưới đây là web site cho bạn đọc có thể nghiên cứu thêm về những loại vũ khí Trung Cộng có thể có:&lt;br /&gt;EMP, HPM, RFW.&lt;br /&gt;http://www.uscc.gov/researchpapers/2004/04fisher_report/5hitech.htm&lt;br /&gt;Bản tin ngày 19 tháng 01 năm 2007 của đài truyền hình CNN đã cho viết Trung Cộng đã bắn rơi một vệ tinh củ ngoài bầu khí quyển cách trái đất 537 dặm anh (miles)&lt;br /&gt;http://www.cnn.com/video/#/video/us/2007/01/18/mcintyre.satellite.missile.test.affl video&lt;br /&gt;http://www.cnn.com/2007/TECH/space/01/18/china.missile/index.html&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;05Vien kinh Hay Sung Dien Quang?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;05&lt;br /&gt;Trong hình bên dưới có hai hình trôn óc nếu ta nhìn kỷ sẽ thấy tương tự như những hệ thống phi đạn ngầm dưới đất.&lt;br /&gt;06Vong xoay tron oc la ky&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;06&lt;br /&gt;Hình dưới đây càng làm cho chúng ta bất an thêm là vì có hai dàn, có thể là phi đạn, hướng về bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc.&lt;br /&gt;Xin đọc giả nhìn vào vòng định hướng ngay trên góc tay phải của tấm hình để hiểu rõ vấn đề.&lt;br /&gt;Đông, Tây là hướng về Việt-Nam và biển Thái Bình Dương.&lt;br /&gt;Nam, Bắc có thể hướng về Nhật-Bản, Autralia, Guam, Hawai.&lt;br /&gt;07Dan Phi Dan Hay Tiep Lieu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;07&lt;br /&gt;Hình bên dưới đây cho đọc giả thấy rõ hơn kích thước cuả phi đạn, đây là dàn phi đạn chứ không thể nào là nguồn năng lượng mặt trời được phân hướng rõ rệt Đông, Tây.&lt;br /&gt;08Phi Dan Nguyen Tu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;08&lt;br /&gt;Hình dưới đây cho chúng ta thấy hệ thống phòng thủ trên bải biển của Trung Cộng đang hướng về phía Tây, hướng Việt-Nam.&lt;br /&gt;Có 6 khu vực phòng thủ hình tròn.&lt;br /&gt;09PhongThu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;09&lt;br /&gt;Hình trên được phóng đại bên dưới, 2 vòng tròn lớn, 4 vòng tròn nhỏ dọc theo bờ biển phía Tây hướng về Việt-Nam.&lt;br /&gt;10He ThongPhong Thu Huong Ve Viet-Nam&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;10&lt;br /&gt;Hình bên dưới có thể là một loại súng điện quang (ground base laser) ?&lt;br /&gt;11Sung Dien Quang&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;11&lt;br /&gt;Không ảnh bên dưới cho thấy một đám mây kỳ lạ có chu vi hình tròn đang vần vũ trên bầu trời miền Trung Việt-Nam đối diện với khu vực Hoàng-Sa.&lt;br /&gt;Liệu đây có thể là những đám mây nhân tạo hóa học có thể bao gồm cả vi khuẩn các bệnh dịch đang hoành hành trên lãnh thổ miền Trung Việt-Nam?&lt;br /&gt;12ThoiTiet01&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;12&lt;br /&gt;http://metocph.nmci.navy.mil/sat/gms_nwtrop/ir/nwtrop_ir.jpg&lt;br /&gt;Hình thứ nhì dưới đây cho chúng ta một nhận xét rõ ràng hơn tình trạng mưa gió, lũ lụt đang hoành hành tại miền Trung và Bắc Việt-Nam.&lt;br /&gt;Nếu hải quân TC bắn kèm theo đám mây dưới đây một phi đạn EMP cở nhỏ thì tất cả hệ thống điện tại miền Trung sẽ hoàn toàn tê liệt mà chẳng ai hay biết vì cứ ngở là do mưa lũ và sấm sét gây ra.&lt;br /&gt;13ThoiTiet02&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;13&lt;br /&gt;http://metocph.nmci.navy.mil/sat/gms_nwtrop/vis/nwtrop_vis.jpg&lt;br /&gt;Miền Bắc sẽ khốn đốn vì mưa lũ, lốc xoáy, và có thể có cả virus xin xem hình không ảnh bên dưới sẽ thấy nguồn gốc của những đám mây đang thành hình và tiến dần vào miền Bắc Việt-Nam.&lt;br /&gt;14ThoiTiet03&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;14&lt;br /&gt;http://www.nrlmry.navy.mil/sat-bin/display10?PHOT=yes&amp;AREA=pacific/western/tropics&amp;PROD=vis&amp;NAV=tropics&amp;CGI=tropics.cgi&amp;ARCHIVE=Latest&amp;MOSAIC_SCALE=15%25&amp;CURRENT=LATEST.jpg&lt;br /&gt;Ngày 25/10/07 mây tựu hình&lt;br /&gt;15ThoiTiet04&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;15&lt;br /&gt;http://www.nrlmry.navy.mil/sat-bin/display10?PHOT=yes&amp;AREA=pacific/western/tropics&amp;PROD=vis&amp;NAV=tropics&amp;CGI=tropics.cgi&amp;ARCHIVE=Latest&amp;MOSAIC_SCALE=15%25&amp;CURRENT=LATEST.jpg&lt;br /&gt;Ngày 26/10/07 đám mây đã thành hình vùng sông Dương-Tử nam Trung Hoa.&lt;br /&gt;16ThoiTiet05&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;16&lt;br /&gt;http://www.nrlmry.navy.mil/sat-bin/display10?PHOT=yes&amp;AREA=pacific/western/tropics&amp;PROD=vis&amp;NAV=tropics&amp;CGI=tropics.cgi&amp;ARCHIVE=Latest&amp;MOSAIC_SCALE=15%25&amp;CURRENT=LATEST.jpg&lt;br /&gt;Ngày 27/10/07 mây đã hoàn toàn thành lập và sẽ tiến dần về miền Hoa Nam và Bắc Việt-Nam.&lt;br /&gt;17ThoiTiet06&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;17&lt;br /&gt;http://www.nrlmry.navy.mil/sat-bin/display10?PHOT=yes&amp;AREA=pacific/western/tropics&amp;PROD=vis&amp;NAV=tropics&amp;CGI=tropics.cgi&amp;ARCHIVE=Latest&amp;MOSAIC_SCALE=15%25&amp;CURRENT=LATEST.jpg&lt;br /&gt;Ngày 28/10/07 vùng châu thổ sông Dương-Tử và Hoa Nam đã bị bao phủ bởi đám mây nầy.&lt;br /&gt;18ThoiTiet07&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;18&lt;br /&gt;http://www.nrlmry.navy.mil/sat-bin/display10?PHOT=yes&amp;AREA=pacific/western/tropics&amp;PROD=vis&amp;NAV=tropics&amp;CGI=tropics.cgi&amp;ARCHIVE=Latest&amp;MOSAIC_SCALE=15%25&amp;CURRENT=LATEST.jpg&lt;br /&gt;Cùng ngày 28/10/07 những đám mây khác đang vần vũ thành hình tiến dần về miền Trung Việt-Nam.&lt;br /&gt;19ThoiTiet08&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;19&lt;br /&gt;http://www.nrlmry.navy.mil/sat-bin/display10?PHOT=yes&amp;AREA=pacific/western/tropics&amp;PROD=vis&amp;NAV=tropics&amp;CGI=tropics.cgi&amp;ARCHIVE=Latest&amp;MOSAIC_SCALE=15%25&amp;CURRENT=LATEST.jpg&lt;br /&gt;Ngày 30/10/07 miền Bắc đang bị đe dọa vì lũ, riêng miền Trung đã hoàn toàn bị mưa lũ hoành hành.&lt;br /&gt;20ThoiTiet09&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;20&lt;br /&gt;http://www.nrlmry.navy.mil/sat-bin/display10?PHOT=yes&amp;AREA=pacific/western/tropics&amp;PROD=vis&amp;NAV=tropics&amp;CGI=tropics.cgi&amp;ARCHIVE=Latest&amp;MOSAIC_SCALE=15%25&amp;CURRENT=LATEST.jpg&lt;br /&gt;Ngày 31/10/07 hai đám mây kết hợp bao phủ toàn miền Trung và Bắc Việt-Nam, hình bên dưới.&lt;br /&gt;Như thế những loại bệnh tiêu chảy cấp tính, cúm gà, heo bò long-móng, sốt xuất-huyết, đau màng óc..vv..vv.. đều có thể xuất xứ từ những đám mây nầy vì những loại bệnh trên đã phát triễn khắp mọi nơi trên đất Việt, chứ không bị giới hạn ở trong bất cứ một khu vực riêng rẽ nào và như thế những lời tuyên bố “đã kiểm-soát được dịch” của bọn Việt gian bán nước chỉ là những lời láo khoét, mị dân ngõ hầu che dấu đi những bất lực của bọn Việt gian bán nước.&lt;br /&gt;Từ ngữ “Việt gian bán nước” sẽ là một dấu mộc đóng ngay trước trán của bọn chúng và bọn chúng sẽ không thể nào gội rữa được cho dù bọn chúng thay màu, đổi sắc như bọn tắc-kè, kỳ-nhông.  &lt;br /&gt;21ThoiTiet10&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;21&lt;br /&gt;http://www.nrlmry.navy.mil/sat-bin/display10?PHOT=yes&amp;AREA=pacific/western/tropics&amp;PROD=vis&amp;NAV=tropics&amp;CGI=tropics.cgi&amp;ARCHIVE=Latest&amp;MOSAIC_SCALE=15%25&amp;CURRENT=LATEST.jpg&lt;br /&gt;Kết quả như chúng ta đã thấy cả miền Bắc và miền Trung khốn đốn vì mưa lũ, lốc xoáy.&lt;br /&gt;Một đám mây có xuất xứ từ vùng quần đảo Trường-Sa báo hiệu cho thấy miền Trung Nam phần Việt-Nam sẽ khốn đốn vì lũ lụt.&lt;br /&gt;22ThoiTiet11&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;22&lt;br /&gt;http://metocph.nmci.navy.mil/sat/gms_nwtrop/vis/nwtrop_vis.jpg&lt;br /&gt;Hình bên dưới có thể cho ta hai hình ảnh: kho nhiên liệu hay súng điện quang các loại như đã kể trên.&lt;br /&gt;Nếu đúng như suy luận sẽ trả lời cho những nghi vấn về những chiếc máy bay quân sự của Việt-Nam đã rơi trong thập niên vừa qua, và cũng sẽ là câu trả lời cho những chiếc phi cơ dân sự đã rớt hay mất tích trong vùng Đông Nam Á gần đây.&lt;br /&gt;23SungDienQuang?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;23&lt;br /&gt;Bên ngoài đảo Phú-Lâm còn một hòn đảo nhỏ dính liền với đảo Phú-lâm có tên là Hòn-Tháp_Rocky.&lt;br /&gt;Tại nơi đây Trung Cộng đã trang bị rất nhiều hầm phi đạn (nếu đây là những hầm phi đạn).&lt;br /&gt;Có tất cả 7 hầm, cùng một khu tam giác với mũi nhọn hướng về phía Tây, tức Việt-Nam!&lt;br /&gt;24DaoPhuLam_HonThap-Rocky_HamPhiDan&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;24&lt;br /&gt;Đảo Phú Lâm còn có cả cảng lớn cho tàu chiến hay tàu bơm dầu cập vào, có cả sân bay trực thăng.&lt;br /&gt;25Tau Chien San Bay Truc Thang&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;25&lt;br /&gt;Ngay cửa vào cảng của đảo có hai trạm tiền tiêu.&lt;br /&gt;26Hai tram tien tieu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;26&lt;br /&gt;Có cả một hạm đội tàu chiến luôn tuần phòng lối vào cảng. Nếu một tàu đánh cá nào cuả Việt-Nam lọt vào đây sẽ khốn đốn ngay vì không có lòng nhân đạo ở trên đảo nầy mà chỉ có bắn và giết.&lt;br /&gt;27Ham doi TC&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;27&lt;br /&gt;Tàu dầu đậu ngoài khơi ngay cửa cảng đang chờ bơm thêm dầu.&lt;br /&gt;28Tau Dau TC&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;28&lt;br /&gt;Bên dưới bao gồm toàn diện đảo Phú-Lâm-Hòn-Tháp cùng hai hạm đội Đông, Tây bảo vệ đảo.&lt;br /&gt;29Toan Dao Phu Lam_Rocky&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;29&lt;br /&gt;Trên đảo Cát-Tây có những lỗ như những lỗ bom thử nghiệm&lt;br /&gt;30Cat Tay, Dao Cay&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;30&lt;br /&gt;Ba lỗ bom trên đảo Cát-Tây&lt;br /&gt;31Khu vuc Cat-Tay_West Sand_Nuke holes?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;31&lt;br /&gt;Trên đảo cây có căn cứ cho những lực lượng trú phòng của TC.&lt;br /&gt;32Dao Cay luc luong tru phong&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;32&lt;br /&gt;Lực lượng trú phòng nhìn từ bên sau.&lt;br /&gt;33Luc luong tru phong nhin tu ben sau&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;33&lt;br /&gt;Lực lượng trú phòng nhìn đối diện.&lt;br /&gt;34Luc luong tru phong doi dien.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;34&lt;br /&gt;Đảo Bắc có triễn vọng trở thành căn cứ hay trạm nghiên cứu cho hải quân TC.&lt;br /&gt;35Dao bac.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;35&lt;br /&gt;Đảo Trung củng thế.&lt;br /&gt;36Dao Trung&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;36&lt;br /&gt;Đảo Nam cũng có nhiều triển vọng tương tự.&lt;br /&gt;37Dao Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;37&lt;br /&gt;38Con cat Bac-Trung-Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;38&lt;br /&gt;Trong bài viết nầy người viết sẽ không chú tâm vào những vũ khí qui-ước cuả TC như là phi đạn, hải pháo thông thường mà người viết chỉ chú tâm vào những vũ khí TC đang nghiên cứu, chế biến từ những nguồn cung cấp cuả Nga-Sô hay Do-Thái như các loại sau đây:&lt;br /&gt;Bom điện từ tính, điện quang, sóng điện vi-ba, điện quang chống vệ tinh, súng điện quang tầm ngắn, súng điện quang chống phi đạn…..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kể từ năm 1999-2001, quân đội nhân dân Trung Cộng đã nghiên cứu và chế thành những loại vũ khí bắn không cần đạn như súng bắn từ tính (electromagnetic gun, emg), súng chống chiến xa (anti-tank, emg) và súng chống máy bay (anti-aircraft, emg) cũng như súng điện từ (electromagnetic field) cá nhân trang bị cho bộ binh.  &lt;br /&gt;Bắt đầu kể từ năm 2000 Trung Cộng tiến hành chế biến những loại bom điện từ (electromagnetic pulse bomb) hay những phi đạn tầm ngắn, tầm xa có thể bắn lên không trung và nổ trong khu vực một vài dậm anh để tiêu hủy hay làm tê liệt những cơ phận điện tử trên những hàng không mẫu hạm của Hoa-Kỳ.&lt;br /&gt;Những loại phi đạn nầy có thể được hướng dẩn bởi vệ tinh.&lt;br /&gt;****Như thế những chiếc phi cơ quân sự của CSVN bị rớt trong những năm 1990-2006 chắc không phải vì tai nạn mà vì Trung Cộng đã bắn thử những loại phi đạn nầy trong đó có cả tai nạn máy bay mới đây của Thailand trong khi đáp xuống Phuket trong năm nay, ngày  16/09/2007 trong một cơn mưa và đây cũng là một yếu tố che dấu đi dấu vết của việc bắn phi đạn EMP.****&lt;br /&gt;http://www.newsvine.com/_news/2007/09/16/965331-plane-crash-in-thailand-kills-88&lt;br /&gt;Ngoài ra loại vũ khí nầy còn có thể làm tê liệt cả những hệ thống radar, truyền tin.&lt;br /&gt;Tất cả những loại vũ khí nầy đều xuất xứ từ thoả ước giửa Nga-Sô và Trung Cộng vào tháng 06/1999 và tháng 01/2000.&lt;br /&gt;Cuối năm 2001 Nga-Sô đã chế tạo loại vũ khí vi-ba (microwave weapon, đây là loại radio-frequency weapon kẻ thù số một của những cơ phận điện tử) mới và đã đề nghị bán cho Trung Cộng lẫn Ấn-Độ.&lt;br /&gt;****Ngày 07 tháng 09 năm 2007 hệ thống điện toán của công an trong phi trường Tân Sơn Nhất đã bị tê liệt vì mưa, điều đáng lưu ý là những trường hợp xãy ra như thế đều bắt đầu bằng một cơn mưa vì đây là phương thức dấu đi việc bắn thử phi đạn EMP hay RFW.&lt;br /&gt;Trong những ngày gần đây chính phủ “Việt gian bán nước” lại ký mua thêm những chiếc Boeing của Hoa-Kỳ, câu hỏi được đặt ra là liệu bọn Trung Cộng trấn đóng tại hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa, cũng như hải quân Trung Cộng trên biển Đông, có cho phép những chiếc phi cơ nầy cất cánh lên khỏi phi trường Tân Sơn Nhất hay không khi bọn TC muốn làm áp lực với bộ chính trị "Việt gian bán nước"? Hỏi tức là trả lời.****  &lt;br /&gt;http://www.60s.com.vn/index.aspx?id=337414&amp;t=08092007&lt;br /&gt;Như thế Trung Cộng là một trong những nước hàng đầu của bọn khủng bố vì với những loại vũ khí radio frequency weapon (RFW) nầy Trung Cộng sẽ làm áp lực nặng với Việt-Nam và những nước lân cận trong vùng biển Đông và Nam Thái Bình Dương.&lt;br /&gt;Về loại vũ khí Ranets-E có khả năng tiêu hủy các cơ phận điện tử trên phi cơ và phi đạn trong đường kính 20 dậm Anh (32 km), Ranets-E cannon có thể gắng trên xe, tàu hay phi cơ.&lt;br /&gt;Riêng Rosa-E system dùng để phá vở những cơ phận điện tử của những hệ thống radar và có khả năng tàn phá những cơ phận điện tử trong một khu vực rộng lớn, hệ thống nầy có thể gắn trên phi cơ, tàu thủy hay ngay cả trong phi đạn với khả năng sức nổ mạnh 100 kilowatts, trong khi đó những cơ phận điện tử chỉ cần sức nổ của 50-100 volt là có thể tiêu hủy toàn bộ điện tử. &lt;br /&gt;http://archive.newsmax.com/archives/articles/2002/3/21/15629.shtml&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Loại vũ khí nầy đã được giới thiệu tại Lankagwi International Maritime and Aerospace 2001 exhibition tại Malaysia hồi tháng 10/2001.&lt;br /&gt;Và người viết xin được tạm kết thúc tài liệu nầy tại đây.&lt;br /&gt;11/06/2007&lt;br /&gt;Bách Việt Nhân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt; Sửa đổi: hundredyue -- 11/21/2007 10:53:43 PM &gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(trả lời: hundredyue)&lt;br /&gt; Bài số: 43&lt;br /&gt;RE: Tiểu Não Bách Việt - 12/15/2007 10:19:28 PM     &lt;br /&gt;Không có Bài Mới&lt;br /&gt;hundredyue&lt;br /&gt;Nhà Lá&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài: 44&lt;br /&gt; Bách Việt Nhân xin cáo lỗi cùng bạn đọc vì không có đù thời giờ post bài mới lên nên đành phải áp dụng phương thức nầy dưới dạng web link cho bài mới, dưới chủ đề: &lt;br /&gt;   &lt;br /&gt;                            "Án Sử Ải-Nam Quan"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuAiNamQuan_01.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuAiNamQuan_02.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuAiNamQuan_03.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuAiNamQuan_04.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuAiNamQuan_05.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuAiNamQuan_06.htm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những bài "Án Sử" kế tiếp củng sẽ dưới dạng link nầy.&lt;br /&gt;Xin thành thật cáo lỗi cùng bạn đọc.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Bách Việt Nhân.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(trả lời: hundredyue)&lt;br /&gt; Bài số: 44&lt;br /&gt;RE: Tiểu Não Bách Việt - 12/18/2007 9:52:26 PM     &lt;br /&gt;Không có Bài Mới&lt;br /&gt;hundredyue&lt;br /&gt;Nhà Lá&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài: 44&lt;br /&gt; Hundredyue xin cáo lỗi cùng đọc giả Đặc Trưng, vì lý do chạy đua với thời gian trong việc chuẩn bị tài liệu cho những bài tới để tiếp sức cho Học sinh, Sinh viên đang "cởi cá kình" "đạp đầu sóng, ngọn gió" ngay trên quê hương mình để đối đầu với bọn "Việt gian buôn dân bán nước", cho nên Hundredyue phải dùng phương thức nầy.&lt;br /&gt;Một lần nửa xin thành thật cáo lỗi. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Bây giờ xin mời bạn đọc cùng Hundredyue đi tìm những mãnh quê hương đã lọt vào tay giặc Hán do bọn phản quốc Hồ Chí Minh cùng đồng đảng cúi mọp đầu, hai tay dâng từng mãnh thịt quê hương cho Tàu cộng, qua những đường nối dưới đây.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Hundredyue kính mời.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      "Án Sử Tà-Lùng, hay Thủy-Khẩu Quan"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuTaLung01.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuTaLung02.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuTaLung03.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuTaLung04.htm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(trả lời: hundredyue)&lt;br /&gt; Bài số: 45&lt;br /&gt;RE: Tiểu Não Bách Việt - 12/20/2007 12:26:09 AM     &lt;br /&gt;Không có Bài Mới&lt;br /&gt;hundredyue&lt;br /&gt;Nhà Lá&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài: 44&lt;br /&gt; "Âm Mưu Dâng Đất, Âm Mưu Bán Đất"&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Tài liệu trên đã lên web xin mời qúi đọc giả vào xem để cùng bắt tay nhau hành động.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&amp;file=article&amp;sid=3063&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AmMuuChiemDatAmMuuDangDat01.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AmMuuDangDatAmMuuChiemDat02.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AmMuuDangDatAmMuuChiemDat03.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AmMuuDangDatAmMuuChiemDat04.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AmMuuDangDatAmMuuChiemDat05.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AmMuuDangDatAmMuuChiemDat06.htm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hundredyue.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(trả lời: hundredyue)&lt;br /&gt; Bài số: 46&lt;br /&gt;RE: Tiểu Não Bách Việt - 1/6/2008 1:31:56 AM     &lt;br /&gt;Không có Bài Mới&lt;br /&gt;hundredyue&lt;br /&gt;Nhà Lá&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài: 44&lt;br /&gt; Án Sử Núi Khấu-Mai&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Tài liệu nầy đã được đưa lên web, xin mời qúi đọc giả theo các đường kết nối dưới đây để đọc, tìm hiểu, và bước kế tiếp là cùng bắt tay nhau hành động.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;AnSuNuiKhauMai&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&amp;file=article&amp;sid=3191&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai01.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai02.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai03.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai04.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai05.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai06.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai07.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai08.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai09.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai10.htm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hundredyue.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(trả lời: hundredyue)&lt;br /&gt; Bài số: 47&lt;br /&gt;RE: Tiểu Não Bách Việt - 1/6/2008 8:13:45 AM     &lt;br /&gt;Không có Bài Mới&lt;br /&gt;nhunguyen&lt;br /&gt;Cao Ốc&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài: 1094&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    quote:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Trích đoạn: hundredyue&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Án Sử Núi Khấu-Mai&lt;br /&gt;     &lt;br /&gt;    Tài liệu nầy đã được đưa lên web, xin mời qúi đọc giả theo các đường kết nối dưới đây để đọc, tìm hiểu, và bước kế tiếp là cùng bắt tay nhau hành động.&lt;br /&gt;     &lt;br /&gt;     &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    AnSuNuiKhauMai&lt;br /&gt;    http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&amp;file=article&amp;sid=3191&lt;br /&gt;    http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai01.htm&lt;br /&gt;    http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai02.htm&lt;br /&gt;    http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai03.htm&lt;br /&gt;    http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai04.htm&lt;br /&gt;    http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai05.htm&lt;br /&gt;    http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai06.htm&lt;br /&gt;    http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai07.htm&lt;br /&gt;    http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai08.htm&lt;br /&gt;    http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai09.htm&lt;br /&gt;    http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuNuiKhauMai10.htm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Hundredyue.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cám ơn bác Bách Việt  !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Wow , thật là một công trình...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mong bác tiếp tục, nn lúc nào cũng thích vào đây  !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_____________________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;...tình nhị hồ vẫn yêu âm xưa !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(trả lời: hundredyue)&lt;br /&gt; Bài số: 48&lt;br /&gt;RE: Tiểu Não Bách Việt - 1/8/2008 9:59:41 AM     &lt;br /&gt;Không có Bài Mới&lt;br /&gt;hundredyue&lt;br /&gt;Nhà Lá&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài: 44&lt;br /&gt; Quốc nội không sợ hải. Hải ngoại đừng thờ ơ.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;http://www.voiceofvietnam.org/Loi%20Keu%20Goi%20Bieu%20Tinh%20Lan%203.pdf&lt;br /&gt;http://anhduong.info/joomla/index.php?option=com_content&amp;task=view&amp;id=40&amp;Itemid=1&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin các bạn tiếp tay phổ biến và góp sức hành động.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Cám ơn NN, đang tiến hành "Án Sử Thác Bản-Giốc".&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Hundreyue.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(trả lời: nhunguyen)&lt;br /&gt; Bài số: 49&lt;br /&gt;RE: Tiểu Não Bách Việt - 1/16/2008 8:58:13 AM     &lt;br /&gt;Không có Bài Mới&lt;br /&gt;hundredyue&lt;br /&gt;Nhà Lá&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài: 44&lt;br /&gt; “Án Sử Thác Bản-Giốc” đã lên web xin mời qúy đọc giả vào xem.&lt;br /&gt;AnSuThacBanGioc_Web&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&amp;file=article&amp;sid=3246&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc01.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc02.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc03.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc04.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc05.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc06.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc07.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc08.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc09.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc10.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc11.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc12.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc13.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc14.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc15.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc16.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc17.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc18.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc19.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc20.htm&lt;br /&gt;http://www.vietnamexodus.org/vne/vnenews/thoisu/AnSuThacBanGioc21.htm&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Qua những bằng chứng cướp nước của TC cũng như những bằng chứng bán nước cuả bọn Việt gian Hà-Nội lằn ranh nội thù, ngoại xăm đối với dân tộc Việt-Nam đã rỏ ràng vì thế cho đến hôm nay những ai còn thập thò đi đêm với bọn Việt gian đều là tội đồ của dân tộc Việt-Nam.&lt;br /&gt;Tội bán nước và hợp tác với bọn bán nước đều là trọng tội như nhau.&lt;br /&gt;Không có giảm khinh.&lt;br /&gt;Hundredyue.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(trả lời: hundredyue)&lt;br /&gt; Bài số: 50&lt;br /&gt;Trang:   &lt;&lt;   &lt; phần trước  3 4 [5] 6 7   phần sau &gt;   &gt;&gt;&lt;br /&gt;Các Diễn Đàn &gt;&gt; [Đời Sống - Xã Hội] &gt;&gt; Chuyện Linh Tinh &gt;&gt; RE: Tiểu Não Bách Việt  Trang: &lt;&lt;   &lt; phần trước  3 4 [5] 6 7   phần sau &gt;   &gt;&gt;&lt;br /&gt;Chuyển tới:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài Mới  Không có Bài Mới&lt;br /&gt;Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới)  Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)&lt;br /&gt;Khóa (có bài mới)  Khóa (không bài mới)&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Đăng Đề Mục Mới&lt;br /&gt; Trả Lời&lt;br /&gt; Trưng Cầu&lt;br /&gt; ý Kiến của Bạn&lt;br /&gt; Xóa bài của mình&lt;br /&gt; Xóa đề mục của mình&lt;br /&gt; Đánh Giá Bài Viết&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thành Viên đã Đóng Góp cho tháng 5-6/2009:&lt;br /&gt;Linh Dac, Mai Dang&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Login | Góc Riêng | Thư Riêng | Bài Trong Ngày | Bài Mới | Lịch | Các Thành Viên | Các Diễn Đàn | Ảnh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin mời các bạn qua thăm Phố Cũ, có rất nhiều bài vở để xem.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;0.480&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2533462898413902860-3705283730853581237?l=biethai.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://biethai.blogspot.com/feeds/3705283730853581237/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/hai-chien.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/3705283730853581237'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/3705283730853581237'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/hai-chien.html' title='Hai Chien'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sl009pUUhjI/AAAAAAAAFAs/NhEtXOO668I/s72-c/BietHai_in_action.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2533462898413902860.post-1825006298005779201</id><published>2009-07-13T07:45:00.000-07:00</published><updated>2009-08-18T17:13:47.220-07:00</updated><title type='text'>Lời người trong cuộc thuộc Gia Ðình Biệt Hải /SPVDH/Nha Kỹ Thuật</title><content type='html'>&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SltIujaBa4I/AAAAAAAAE9E/oNviVaL5nzw/s1600-h/3172185419_8b1bffd1b1.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 230px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SltIujaBa4I/AAAAAAAAE9E/oNviVaL5nzw/s400/3172185419_8b1bffd1b1.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5357956146302905218" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;Xin có ý kiến: Lời người trong cuộc thuộc Gia Ðình Biệt Hải /SPVDH/Nha Kỹ Thuật&lt;br /&gt;Tuesday, November 30, 2004&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin được gửi đến tác giả, Phạm Phong Dinh và ông kỹ sư hội trưởng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 25. 7. 04, lễ giỗ kỳ 4 cho các Anh Hồn Tử Sĩ do Gia đình Biệt Hải đứng ra tổ chức. Nhân dịp chúng tôi liên lạc được với Anh Nguyên Huy, đại diện Ban Biên Tập tờ KBC Hải Ngoại, và ngỏ ý nhờ Ông Chủ Nhiệm giúp phát hành số đặc biệt về Lực Lượng Biệt Hải / SPVDH/Nha Kỹ Thuật cho Ngày Lễ Giỗ, đã được Anh mau mắn vui vẻ nhận lời. Có lẽ, tình đồng đội khó quên vào thời gian Anh phục vụ ở Sở Tâm Lý Chiến. Trong mỗi lần các toán Biệt Hải/Hải Tuần SPVDH xâm nhập, đều được lệnh mang theo một số truyền đơn hoặc quà do STLC từ Sài Gòn gửi ra, để trao tặng đến cho dân chúng miền Bắc lúc đó, đồng thời khai thác tin tức qua những tù binh bắt được hầu cung cấp cho STLC và Ðài Phát Thanh Gươm Thiêng Ái Quốc. Trong Tờ KBC, Thứ Ba Số 31 tháng 7. 04, một số bài đóng góp do các NT Biệt Hải/ Hải Tuần. Số còn lại, do anh em Biệt Hải cung cấp tài liệu và chính tôi viết thành bài. Sau 3 tuần Anh Nguyên Huy gọi cho biết tờ KBC đã in xong và Tòa soạn có nhã ý tặng anh em BH mỗi người một số báo. Khi mở tới trang 23 có bài viết về LÐ/NN của Tác giả Phạm Phong Dinh. Sau đó hai tuần (tức ngày 18. 8. 04) trên Nhật báo Người Việt (phụ trang Diễn Ðàn số 6829). Xin có ý kiến. Lại thấy nguyên bài đính chính của Hội Ái Hữu LÐ/NN, HQVNCH ký tên Hội Trưởng Kỹ sư Phan Tấn Hưng, viết phê bình Tác giả Phạm Phong Dinh những điểm không đúng về bài NN và Biệt Hải. Mặc dầu bài đính chính đã được Ông phân tách danh hiệu rất rõ của từng đơn vị Biệt Hải như: BH Ðà Nẵng (Sea Rider) BH Năm Căn (Junk Force Commando) Biệt Hải SPVDH (Sea Commando). Nhưng đến phần phân tích trình độ giữa NN và BH thì không hề thấy Ông nêu tên đích danh từng đơn vị, vì thế chúng tôi không biết ý Ông muốn ám chỉ Biệt Hải nào là đối tượng được đề cập trong bài? Ðặc biệt tờ báo nầy lại khá đông độc giả, đã khiến một số người hiểu lầm về Biệt Hải (Sea Commando) của SPVDH/NKT. Thiết nghĩ không nên viết những điều hơn thua trên báo chí vào lúc nầy có lẽ hay hơn, vì chỉ gây thêm ngộ nhận, hiểu lầm lẫn nhau chẳng lợi ích gì, nhất là trong bối cảnh hiện nay tập thể cựu Quân nhân tại hải ngoại, rất cần đến sự nắm tay đoàn kết của mọi Quân Binh Chủng, hầu vận động tranh đấu Tự do và quyền làm người của hơn 80 triệu dân Việt, trong đó có rất nhiều đồng đội của chúng ta. Hiện tại một số NT những người đứng ra thành lập LLBH/SPVDH, và từng phục vụ từ ngày đầu cho đến cuối cùng. Tất cả đều biết đã có một số bài mà lâu nay các Tác giả viết hoàn toàn sai sự thật về đơn vị LLBH, nhưng không muốn lên tiếng. Ngẫm nghĩ trước kia khi súng đạn sẵn cầm trong tay, mình đã chưa làm đủ để chu toàn bổn phận của người trai trước thời cuộc, hiện tại may mắn được thoát nạn Cộng sản sang sống tại phần đất tạm dung nầy, thử hỏi chúng ta còn gì nữa để mà phô trương khoe khoang (nổ) xét đã quá muộn màng. Nhân cơ hội được đọc cuốn sách vừa mới phát hành có tựa đề “Lực Lượng Ðặc Biệt giữa Những Tổ Chức Chiến Tranh Không Qui Ước” của Tác giả NT/Phan Bá Kỳ, một số anh em cựu Lực Lượng Biệt Hải thuộc SPVDH khuyến khích, đã là động cơ thúc đẩy, hơn nữa vì danh dự chung của LL/Biệt Hải (SeaCommando) khiến tôi xin được mạnh dạn trình bày hầu để làm sáng tỏ sự việc, đồng thời dựa vào tài liệu viết về LL/BH của NT Nguyễn Thanh Hoài, NT Lữ Triều Khanh &amp; Người ra Biển Bắc, NT Trần Ðỗ Cẩm v.v... Cộng với thời gian được hoạt động trong các toán công tác thuộc LL Biệt Hải. Ðặc biệt cũng để minh định thay cho những Anh Hồn Vô danh thuộc các toán Biệt Hải hy sinh liều thân vì đại cuộc trước 75, tất cả đã đồng tâm chiến đấu dưới màu cờ sắc áo của chính đơn vị, mà họ tự lựa chọn trước khi nhập cuộc. Trước khi trả lời, xin phép được tự giới thiệu, tôi cựu Biệt Hải Nguyễn Trâm nhân viên LL/Biệt Hải, may mắn được phụ vụ các toán công tác thuộc SPVDH/NKT, thời gian trên 4 năm. Cuối năm 1972 tự nguyện xin thuyên chuyển về liên Ðoàn Người Nhái, hoạt động ở các toán thuộc Biệt Ðội Hải Kích, dưới quyền Biệt Ðội Trưởng HQ Ð/úy Ðặng Ðình Hiền, Biệt Ðội Phó HQ Tr/úy Nguyễn Minh Cảnh (xin lỗi vì quá lâu không biết có đúng họ, cấp bậc của Ông Cảnh hay không?) cùng với các toán Hải Kích NN. Ðã tham dự những chuyến công tác như sau: Ðề Gi, Năm Căn, Ðặc Khu Rừng Sát, Hải Chiến Hoàng Sa, và cuối cùng bị thương tại vùng 4 trong chuyến công tác cùng toán Tr/úy Hiển. Chiều ngày 24. 12. 74, được điều trị tại Trung Tâm III Dã Chiến Mỹ Tho, đến 75 tan hàng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau đây thay mặt Gđ/Biệt Hải lần lượt trả lời những điểm chính do Ông kỹ sư Phan Tấn Hưng, được nêu đăng trên Nhật Báo Người Việt, ngày 18. 8. 04. Mục đích đóng góp được phần nào, hầu giúp thế hệ sau này và những người viết về Quân Sử, nhận định được rõ ràng về bổn phận và trách nhiệm, từng đơn vị thuộc QLVNCH, trước 1975:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1.- Năm 1961, HQ chưa nhận được văn thư của BTTM để thành lập NN. Năm 1969, Liên Ðội/NN chưa được nâng lên Liên Ðoàn/NN (Không thấy viết NN được chính thức thành lập năm nào?) Khóa “UDT Underwater Demolition Team” (phá hoại dưới nước) là khóa Của Người Nhái chứ không phải của Biệt Hải. UDT không phải BH mà là của NN (không nêu đích danh tên đơn vị BH thuộc vùng nào?)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trả Lời: Công tác Hải vận đã khởi sự từ trước năm 1961, dưới trách nhiệm của Phòng E thuộc Sở Khai Thác Ðịa Hình/PTT. Trong khoảng thời gian nầy các nhân viên đã được tuyển mộ để hoạt động công tác tại miền Bắc. Tất cả đều nằm trong vòng bí mật. Ngoài các bộ phận không vận ở Sài Gòn còn có các Chi Cục: “Chi Cục Atlantic” đóng tại Huế doTr/úy Trần Bá Tuân làm Chi Cục Trưởng, có nhiệm vụ tuyển mộ, huấn luyện trang bị và xâm nhập về đường bộ. “Chi Cục Pacific” đóng tại Ðà Nẵng do Tr/úy Nông An Pang làm Chi Cục Trưởng, Chi Cục nầy có nhiệm vụ tuyển mộ, huấn luyện, trang bị và xâm nhập về đường biển qua vĩ tuyến 17. Ngoài ra, Chi Cục nầy còn quản trị một số thuyền máy gọi là “NAUTILUS” Ða số thủy thủ đoàn là dân chính tình nguyện theo hợp đồng. Thành phần thuộc gốc di cư 54 ở các tỉnh: Nghệ, Tĩnh, Bình phụ trách chuyên chở các toán, mỗi lần xâm nhập bằng đường biển. Cả hai Chi Cục ATLANTIC và PACIFIC đều thuộc Sở Bắc, dưới quyền điều hành của Ðại úy Ngô Thế Linh (Ông Bình) và thi hành theo lệnh của Trung Ương, do Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) phối hợp điều hành. Cuối năm 1963 đầu năm 1964 cả hai chi cục Pacific &amp; Atlantic được giải tán và sát nhập vào SPVDH mới thành lập vào ngày 1/ 4/ 64. SPVDH tạm thời đồn trú tại 52 Bạch Ðằng Ðà Nẵng. Ngoài ra, một số trại khác cũng được thiết lập dọc bãi biển Mỹ Khê. Trong thời gian nầy các toán được tuyển mộ từ mọi Quân Binh Chủng QLVNCH gia nhập vào các toán công tác LL/BH, đồng thời có một số thanh niên gốc di cư 54 ở các xứ đạo cũng tình nguyện theo hợp đồng (gọi toán Dân chính). Tất cả bắt buộc phải trải qua một chương trình Huấn Luyện Biệt Hải dài 24 tuần lễ, kể cả 2 tuần huấn nhục (Hell Weeks). Trong thời gian thụ huấn nếu thể lực cá nhân không hội đủ tiêu chuẩn, đều được trả về lại đơn vị gốc. Không cần biết những khóa sinh nầy đã huấn luyện trước đây ở đâu? Sau khóa Biệt Hải các toán vẫn có chương trình thực tập hằng ngày không bao giờ bỏ sót, trừ khi có những cơn bão lớn hay được nghỉ lễ, đặc biệt hai toán: Cancer (góc Nùng thiểu số) và toán Athena (NN) được thụ huấn bổ túc thêm chuyên môn phá hoại dưới nước UNDERWATER DEMOLITION TECHNICS. Năm 1965, mặc dầu BTL Hải Quân VNCH, có tăng phái cho SPVDH nói chung LL/BH nói riêng, 2 toán công tác: “Toán Athena” (Người Nhái) và “toán Vega” (Hải Thuyền). Tuy nhiên, vì tính cách ngăn cách và bảo mật của công tác, chương trình huấn luyện Biệt Hải/SPVDH đều do Sĩ quan của NKT cộng với các HLV của U.S Navy Seal và U.S Marine Corps soạn thảo và huấn luyện. Là một đơn vị độc lập trong mọi hoạt động, SPVDH nói chung, LLBH nói riêng, không hề bị chi phối với bất kỳ một lực lượng nào khác của QLVNCH, ngoại trừ BCH/ Nha Kỹ Thuật/BTTM/QLVNCH. Ngoài ra, mỗi một nhân viên của LLBH/SPVDH (quân đội và dân chính) đều phải trải qua một khóa học nhảy dù. Tùy theo nhu cầu, các khóa sinh có thể được gửi đến TTHL Sư Ðoàn Nhảy Dù, TTHL Quyết Thắng (Long Thành) để thụ huấn hoặc có thể do Sở PVDH tổ chức, dưới sự chấp thuận của BCH/NKT và các HLV nhảy dù đều do các HLV Hoa Kỳ thuộc Cơ quan US/NAD (US NAVAL ADVISORY DETECHMENT) + Sĩ quan Việt Nam thuộc SPVDH huấn luyện. Sau khi hoàn tất việc huấn luyện, các khóa sinh Quân đội được hưởng phụ cấp không quân vụ gồm cả hai: Chứng chỉ Biệt Hải &amp; Nhảy Dù, tùy theo cấp bậc và thâm niên quân vụ, các khóa sinh dân chính được hưởng phụ cấp riêng do BCH/SPVDH ấn định (Trích tài liệu của NT, Nguyễn Thanh Hoài và NT, Lữ triệu Khanh)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Riêng LL/ Hải Tuần. Tất cả các Thủy Thủ Ðoàn (crews) khi được BTLHQ/VNCH tăng phái cho Sở PVDH, đều được huấn luyện bổ túc phần kỹ thuật. Các loại chiến đỉnh có tốc độ chạy nhanh Patrol Torpdo Fast (được gọi tắt FTF) hoàn toàn do các HLV Hoa Kỳ thuộc Cơ quan USNAD đảm trách. Theo cựu Trưởng Toán Vega, Nguyễn Duyện cho biết. Ðầu năm 1966 Toán Athena do Tr/toán HQ Ð/úy Lâm Nhật Ninh trong đó có Th/sĩ Quới, không hiểu vì lý do gì cả toán được giao trả lại cho LÐ/NN. Sau khi thi hành 3 chuyến công tác. Riêng 7 nhân viên thuộc toán Vega vì không chu toàn công tác, cũng trong năm 1966, được trả về cho BTL/HQ mặc dầu tất cả đã ký hợp đồng. Tháng 4 đến tháng 8 năm 1972. Toán Biệt Hải gồm 32 nhân viên lại tiếp tục gửi sang thụ huấn khóa huấn luyện phá hoại chất nổ (UNDERWATER DEMOLITION TEAM/ SEAL TEAM Advanced training). Kể cả được ăn ở thực tập đổ bộ ban đêm, trong chiếc Tàu ngầm (Sumbmarine the USS GRAYBACK) tại Căn Cứ U.S Naval Station, Subic Bay, Republic of the Philippines.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2.- Người Nhái huấn luyện Biệt Hải chứ BH không thể nào huấn luyện NN được, bởi Người Nhái được thành lập trước và được huấn luyện kỹ hơn Biệt Hải.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trả Lời: Như đã trình bày trên, LLBH/SPVDH là một đơn vị biệt lập, nên V/đề người nhái của HQVN huấn luyện hay LLBH huấn luyện cho người nhái của Hải quân VNCH không nên đặt ra. Cũng nên trình bày thêm rằng: “Khoảng đầu năm 1961 chi cục Pacific thuộc Sở Bắc đã đào tạo được 1 toán Người Nhái. Toán nầy đều do HLV Hoa Kỳ thuộc US NAVY Seal huấn luyện ở vùng biển Tiên Sa Ðà Nẵng. Toán đã tham dự các công tác tại vùng biển Bắc Vĩ Tuyến 17 cùng với hai chuyên viên thuộc LÐ 77/ LLÐB (năm 1962) và năm 1964. Toán Cancer thuộc LLBH/SPVDH đã xâm nhập và phá hoại 6 chiến đỉnh (Swatow) của Bắc Việt tại cửa biển Quảng Khê, Quảng Bình. Lúc đó chắc chắn rằng:”Chưa có Liên Ðoàn Người Nhái của Kỹ sư Phan Tấn Hưng!? Cũng cần nói rằng:” Chỉ có SPVDH/NKT” trong đó có LLBH (Sea Commando) là đơn vị duy nhất của QLVNCH hoạt động tại vùng biển Bắc Vĩ Tuyến 17 mà thôi. (xem LLÐB giữa những tổ chức CTKQƯ” của NT, Phan Bá Kỳ” và “Người ra Biển Bắc” trong đặc san 20 năm Hội Ngộ của Ðại Gđ /NKT). Vào những năm 1970 và 1972, các Khóa Huấn luyện Biệt Hải lại được mở, trong số khóa sinh có các nhân viên từ LÐ/NN tình nguyện gia nhập gồm: Th/sĩ Phan Văn Ðáng, H/sĩ Nguyễn Văn kiệt cả hai đều phải trải qua theo đúng chương trình huấn luyện LL/Biệt Hải. Ðến gần cuối năm 72, có một số anh em từ LÐ/NN cũng ra chờ để theo học gồm các anh: Vân, Trí, Bổng, Phê, Phương, Hải, Hòa (chóe EOD) nhưng lúc đó LL/Biệt Hải không còn mở khóa nữa, nên tất cả phải quay trở về lại NN. Ðặc biệt khóa Huấn luyện NN, tháng 1. 65 tại Nha Trang trong số có Ông Kỹ sư Hội Trưởng theo học, nghe Anh Nguyễn Duyện cho biết, hai Huấn Luyện Viên của khóa 1 Biệt Hải Năm Căn được cử về dạy cho khóa nầy, thế tại sao lại chê đơn vị Biệt Hải không đủ trình độ? Cũng nên lưu ý ở đây toàn ban Cố vấn LL/Biệt Hải từ Yểm trợ đến huấn luyện viên vào thời gian đó, đều do Cơ quan MACVSOG tuyển chọn từ BTL Thái Bình Dương (CINPAC) gửi ra nắm phần điều hành. Duy chỉ có Thông dịch viên là người Việt Nam. Những năm cuối sau này khi chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, một số Cố vấn lần lượt về nước nên cả hai khóa 70 và 72, mới có phụ tá huấn luyện viên phía Việt Nam do LL/BH cử ra mà thôi. Trong thời gian LL/Biệt Hải phụ trách hoạt động các công tác miền Bắc, tất cả đều được nằm trong vòng kiểm soát an ninh hết sức chặt chẽ và bí mật. Từ sinh hoạt của toán hằng ngày đến những lúc thực tập chuẩn bị công tác, nếu không phận vu,ỳ chẳng ai được phép lai vãng tới các nơi ấy hoặc gần khu cấm, kể cả Cố vấn. Mỗi lần có phép về thăm gia đình, không nhân viên nào dám hé môi với những người thân kể cả vợ con, cha mẹ, hiện họ đang làm gì và ở nơi đâu v.v... Thử hỏi làm sao có thể biết rõ trình độ cao thấp để so đo. Cuối năm 1972, có 6 anh em Biệt Hải trong số có tôi. Xin thuyên chuyển về LÐ/NN, tất cả chẳng phải học qua khóa nào vẫn được phụ cấp tiền bằng Nhái, cũng như toán Vega (Hải Thuyền)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.- Khóa Biệt Hải đầu tiên được huấn luyện tại Ðà Nẵng trong tháng 1. 65 được tăng phái chứ không phải thuyên chuyển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trả Lời: Luật lệ của NKT/BTTM, hễ những đơn vị hoặc cá nhân được tăng phái (có nghĩa thời gian ngắn hạn) hoặc thuyên chuyển (vô hạn định) về SPVDH/NKT, đều trực thuộc nhận lãnh trách vụ dưới quyền điều hành của đơn vị mới, trong thời gian đương sự tới đáo nhận. Riêng đối với tất cả nhân viên công tác của Sở PHVDH, đều được ký khế ước (contract) trước khi chấp nhận tuyển chọn để phục vụ cho NHA KỸ THUẬT và MACSOG. Ðương nhiên, chính các đương sự đó không còn liên hệ hay bị ràng buộc gì với đơn vị gốc. Kể từ lúc đó mọi công tác, hoạt động của tất cả nhân viên đều thuộc dưới quyền của Nha Kỹ Thuật và MACSOG, hoàn toàn chịu trách nhiệm điều hành. Ðiển hình Trận Hải Chiến Hoàng Sa, ngày 19. 1. 74, hai toán Biệt Hải tăng phái tham dự, có một số nhân viên BH đã hy sinh, nhưng NKT vẫn không coi đó là công tác của SPVDH. Ðể phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện công tác, quân trang quân dụng và những trang cụ đặc biệt cũng đều được NKT cấp phát v.v... Tưởng cũng xin trình bày ở đây thời gian vừa qua tại hải ngoại. Gđ/Biệt Hải, tổ chức được 4 lần Lễ giỗ, để tưởng nhớ đến các Anh hồn đồng đội. Mỗi lần tham dự, anh em chúng tôi đều yêu thích được mặc bộ bà ba đen trở lại. Mục đích là để ôn cố nghĩa tình đồng đội, trong phút giây “tử biệt” vì chính màu áo mộc mạc đơn sơ này, đã gói gém trọn vẹn thân xác biết bao đồng đội, âm thầm vĩnh viễn đi vào lòng đất hoặc vùng biển cả, ở những nơi chốn thăm thẳm xa xôi khó ai ngờ tới của Tổ Quốc Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.- Năm 62 Người Nhái đã dùng chất nổ tấn công 3 chiến hạm CSBV tại Quảng Bình BV?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trả Lời: Chuyến công tác, Ngày 28. 6. 62 gồm 4 nhân viên: Lê Văn Chuyên, Nguyễn Văn Tâm thuộc LÐ 77 /LLÐB và Lê Văn Kinh, Nguyễn Hữu Thả thuộc HQ/NN (tăng phái) được chiếc NAUTILUS II, chở xâm nhập công tác đặt mìn phá hoại tại Sông Gianh Quảng Bình. Chuyến công tác nầy là do Sở Bắc nhận lệnh thượng cấp phối hợp với Cơ quan &amp; CSD qua Chi Cục Pacific. Bởi vậy, sau những năm tháng dài tù tội một số nhân viên trong chuyến may mắn sống sót, đã được Chính phủ Hoa Kỳ bồi thường theo diện Biệt Kích (chuyến này có một Thủy Thủ Nautilus II, Anh đã may mắn thoát được sau hai đêm một ngày lênh đênh trên biển cả với một tấm ván và được tàu tuần tiễu của HQVNCH vớt được ngang vĩ tuyến 17, hiện đang có mặt tại Hoa Kỳ) Thỉnh thoảng gặp anh Nguyễn Văn Tâm, anh cũng cho biết anh từ LÐ/ 77 được biệt phái qua Sở Bắc công tác (cuốn Hải Sử của Hải Quân mới phát hành ở Hải Ngoại, trong đó cũng không thấy đề cập đến loại tàu Nautilus) Và chuyến công tác tại Quốc lộ 9 Quảng Trị, tháng 4 năm 1972 xâm nhập để cứu hai phi công Hoa Kỳ. Một do Nguyễn Văn Kiệt với Ð/úy Tom Norris, và một phi công khác do tôi phát giác là của toán Biệt Hải/SPVDH/NKT, nhận lệnh từ SPVDH và Cơ quan đối nhiệm của Sở này (Naval Advisory Detechment). Ngụy danh của chuyến công tác là MACSOG-37, do Tr/Tá Andy Anderson, CHT Trung Tâm tiếp cứu JPRC (Joint personnerl recovery Ceter) từ Sài Gòn ra, mang bí danh là Bright Light (có tài liệu chứng minh). Ðược xác nhận cả hai chuyến công tác nầy đều là của Nha Kỹ Thuật, chứ không phải thuộc đơn vị khác, như một số bài vở từng viết ra hoặc có người tự nhận các công tác trên là đơn vị của họ. Tất cả đều hoàn toàn sai sự thật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5.- Vị CHT/Liên Ðoàn Người Nhái cuối cùng của khóa 1, khóa gì? Khóa 1 Người Nhái hay khóa Biệt Hải? Thật ra là khóa 1 Biệt Hải, khóa 1 NN không có Sĩ quan BH. Biệt Hải và Người Nhái là hai đơn vị khác nhau?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trả Lời: Vị CHT cuối cùng của Liên Ðoàn /NN là HQ Thiếu Tá Nguyễn Hữu Hùng, thuộc khóa 12 HQ Nha Trang. Theo lời của một Hạm Trưởng Hải Tuần, HQ Trung Tá Nguyễn Mạnh Trí cho biết. HQ Th/Tá Nguyễn Hữu Hùng trước phục vụ LL/Hải Tuần thuộc “B 12”. Cũng như tất cả Hạm Trưởng của LL/HT, ông đã có trên 200 chuyến xâm nhập Bắc Vĩ tuyến, trong đó gồm nhiều lần chở các toán Biệt Hải xâm nhập vào đất liền (hành quân CaDo) và tuần tiễu kiểm soát dọc duyên hải miền Bắc (công tác LoKy) v.v... (Tài liệu Người ra Biển Bắc -NT, Trần Ðỗ Cẩm viết về LLHT) HQ Thiếu Tá Hùng theo học khóa Biệt Hải năm 1970 cùng với Th/sĩ Người Nhái, Phan Văn Ðáng. Ðảm nhận chức vụ CHT /LLBH từ 70 đến 73. Trong khoảng thời gian này Ông tham gia công tác với toán Biệt Hải, xâm nhập vào Mật Khu U Minh để giải cứu tù binh Mỹ. Tuy công tác không thành công nhưng toán đã bắt được một cán binh Chính qui Cộng sản BV thuộc Tiểu Ðoàn Rạng Ðông (chuyến này có tôi tham dự). Tù binh nầy đem về giao nạp cho NKT khai thác, đã giúp lấy được nhiều tin tức khá ư quan trọng. Năm 1974, được bổ nhiệm chức vụ CHT Liên Ðoàn Người Nhái. Hải Tuần Nguyễn Hoàng Tầm (EOD) biết rất rõ về vị CHT/LÐNN này (HQ Th/Tá Nguyễn Hữu Hùng). Có lẽ trong thời gian nầy Ông Kỹ sư vì bận bịu công vụ ở đơn vị mới, nên không có thì giờ theo dõi sinh hoạt và những thay đổi cấp CHT trong Liên Ðoàn NN, kể cả Biệt đội Trưởng Hải Kích vào thời điểm cuối cùng đấy thôi. Sự thật viết bài nầy trong trường hợp bất đắc dĩ, hầu đóng góp và làm sáng tỏ việc thật người thật về một số hoạt động “Chiến Tranh Ngoại lệ” trong số nhiều tài liệu của LL/Biệt Hải (Sea Commando) thuộc SPVDH/NKT, chứ không hề có ý lạm dụng chữ TÔI. Ðồng thời, giúp những ai muốn tìm hiểu thêm về các đơn vị có cùng một danh xưng hoặc có cùng những hoạt động như các toán LL/Biệt Hải, sẽ nhận định một cách dễ dàng. Hy vọng không còn có những lầm lẫn đáng tiếc xảy ra sau này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phan Tấn Hưng - Liên Ðoàn Người Nhái&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2533462898413902860-1825006298005779201?l=biethai.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://biethai.blogspot.com/feeds/1825006298005779201/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/biet-hai.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/1825006298005779201'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2533462898413902860/posts/default/1825006298005779201'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://biethai.blogspot.com/2009/07/biet-hai.html' title='Lời người trong cuộc thuộc Gia Ðình Biệt Hải /SPVDH/Nha Kỹ Thuật'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SltIujaBa4I/AAAAAAAAE9E/oNviVaL5nzw/s72-c/3172185419_8b1bffd1b1.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry></feed>
